vanban.org

Bản án 222/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 14/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th và bị cáo Lê Thanh Tu phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 6 (sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018. Xử phạt bị cáo Lê Thanh Tu 9 (chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Van Th + Le Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th và bị cáo Lê Thanh Tu phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 222/2018/HSST
Ngày: 14/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân

1) Ông Hoàng Văn Tiến

2) Bà Nguyễn Thị Minh Hồng

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh– Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 233/2018, ngày 26 tháng 7 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1997. HKTT: Thôn TH, xã LTK, huyện YM, HY. Chỗ ở: không nơi ở cố định. Văn hóa: 6/12. Nghề nghiệp: không. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1971. Con bà: Vũ Thị Nh, sinh năm 1975. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. TATS: Theo danh chỉ bản số 000000341 lập ngày 17/5/2018 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo không có tiền án tiền sự. Bị bắt giữ ngày 15/5/2018, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Lê Thanh Tu, sinh năm: 1997. HKTT: Tổ 1 khu 10 phường BC, TP HL, QN. Chỗ ở: không nơi ở cố định. Văn hóa: 6/12. Nghề nghiệp: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Lê Mạnh H sinh năm 1971. Con bà: Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1976. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. TATS: Theo danh chỉ bản số 000000342 lập ngày 17/5/2018 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo 02 tiền án (đã được xóa án)

- Bản án số 264/HSST ngày 26/11/2015, TAND quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 8.200.000 đồng). Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khi phạm tội 16 tuổi 09 tháng 23 ngày).

- Bản án số 440/HSST ngày 30/11/2015, TAND TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 73.364.000 đồng). Hạn tù tính từ ngày 24/01/2015, bị án đã chấp hành xong cả 02 bản án, đến ngày 15/4 /2018 (bị cáo phạm tội nghiêm trọng, khi phạm tội 17 tuổi 01 tháng).

Bị bắt giữ ngày 15/5/2018, hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Phạm Ngọc Z sinh năm 1985. Trú tại: Tổ 1, phường CK, quận LB, tp HN. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 5/2018, Nguyễn Văn Th và Lê Thanh Tu quen nhau tại khu vực phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội. Do không có tiền tiêu xài nên sáng ngày 12/5/2018, Th gọi điện rủ Tu đi trộm cắp phụ Tu ô tô, Tu đồng ý. Sau đó, Tu điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1 - 720.41 đến khu vực phường Phúc Xá, Ba Đình đón Th. Trên đường đi, Th vào cửa hàng mua 01 chiếc tuốc nơ vit và 01 chiếc kìm bấm dùng làm công cụ trộm cắp. Th và Tu bàn bạc sẽ trộm cắp phụ tùng xe ô tô hiệu Mazda 3 hoặc CX5. Tu có nhiệm vụ cảnh giới còn Th trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp. Khi Tu chở Th đi đến khu vực ngách 565/77 đường Bát Khối - P. Cự Khối - Long Biên, hai đối tượng phát hiện thấy chiếc xe ô tô hiệu Mazda 3 BKS: 30E – 796.70 của anh Phạm Ngọc Z đang đỗ ở ven đường không có người trông giữ. Tu liền tháo BKS xe máy đang đi ra treo ở thân xe, sau đó dừng xe cách vị trí ô tô khoảng 10 -15m rồi ngồi trên xe nổ máy đợi sẵn, còn Th đi đến phía cuối xe ô tô dùng chiếc tuốc nơ vít vặn ốc rồi dùng kìm bấm dây điện tháo rời được chiếc camera lùi gắn ở đuôi xe. Sau đó, Th giấu tài sản vừa trộm cắp được vào trong túi quần đang mặc, đi ra chỗ Tu đứng đợi rồi cả hai lên xe máy bỏ chạy về hướng Eco Park, Văn Giang, Hưng Yên. Đến chiều ngày 12/5/2018, Th và Tu mang chiếc camera trên bán cho một nam thanh niên không quen biết tại khu vực Chợ Giời, Hai Bà Trưng, Hà Nội được 1.000.000 đồng, chia nhau mỗi người 500.000 đồng, chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐ ngày 28/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 chiếc camera lùi của xe ô tô Mazda 3 sản xuất năm 2017 đã qua sử dụng trị giá 4.900.000 đồng. (BL 36).

Ngoài chiếc camera trên, anh Phạm Ngọc Z còn trình báo bị mất số tiền 15.000.000 đồng để trong hộc tỳ tay bên phải ghế lái của xe ô tô. Quá trình điều tra Nguyễn Văn Th và Lê Th Tu không khai nhận đã trộm cắp số tiền trên. Cơ quan điều tra cũng không đủ căn cứ kết luận Th và Tu đã trộm cắp số tiền ở trên xe theo trình báo của anh Z.

Tại bản cáo trạng số 233/CT-VKS ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th và Lê Th Tu phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bị cáo bị cáo Nguyễn Văn Th và Lê Thanh Tu khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm nhân dân quận Long Biên sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời nhận tội và đề nghị như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 8 đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 cad Điều 58 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh Tu từ 10 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5 màu xám, 01 điện thoại Nokia 105 màu cam; Tịch thu tiêu hủy 01 giấy hẹn nhận kết quả đăng ký xe mang tên Trần Thị B, 01 mũ lưỡi trai màu lông chuột, 01 mũ lưỡi trai màu nâu, 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng, 01 kìm bấm tay cầm màu đỏ đen, 01 áo phông màu đỏ, 01 quần bò màu xanh.

Về dân sự: Không.

Buộc hai bị cáo phải truy nộp số tiền 1.000.000 đồng mỗi bị cáo 500.000 đồng.

Bị cáo Th và Tu sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, các bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi Trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật. Các Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luật. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của hai bị cáo : Lời nhận tội của bị cáo Th và bị cáo Tu tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h20’ ngày 12/5/2018, tại khu vực ngách 565/77 đường Bát Khối, phường Cự Khối, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Văn Th và Lê Thanh Tu có hành vi dùng tuốc nơ vít và kìm cắt để trộm cắp 01 chiếc camera lùi xe ô tô Mazda 3 trị giá 4.900.000 đồng của anh Phạm Ngọc Z thì bị băt quả tang. Hành vi phạm tội lần này của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy bố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội.

Đây là một vụ án đồng phạm giản đơn trong đó bị cáo Thành là người khởi sướng và là ngưởi thực hiện tích cực. Bị cáo Tu là người giúp sức.

. Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo Th chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Tu đã có hai tiền án, một tiền án xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 8.200.000 đồng), phạm tội ít nghiêm trọng, khi phạm tội 16 tuổi 09 tháng 23 ngày; Một bản án xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản ( trị giá tài sản 73.364.000 đồng), phạm tội nghiêm trọng, khi phạm tội 17 tuổi 01 tháng). Theo quy định tại khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự thì bị cáo Tu được coi là không có án tích nhưng đó thể hiện bị cáo có nhân xấu, đã được giáo dục cải tạo nhưng vẫn không chịu tu chí làm ăn mà tiếp tục phạm tội.Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm này bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo không có không có tình tiết tăng nặng nhưng ngoài thực hiện hành vi trộm cắp đã bị truy tố xét xử nêu trên hai bị cáo cũng đã thực hiện hành vi trộm cắp tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, cơ quan điều tra Công an huyện Văn Lâm đang thụ lý giải quyết.

.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của hai bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt từ có thời hạn đối với hai bị cáo và cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục hai bị cáo.

. Về dân sự: Anh Phạm Ngọc Z không có yêu cầu đề nghị gì do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Xử lý vật chứng: Đối với 02 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Th và Tu; 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng, 01 kìm bấm tay cầm màu đỏ;01 mũ lưỡi trai màu lông chuột, 01 mũ lưỡi trai màu nâu hai bị cáo khai dùng để liên lạc và làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cho tịch thu sung công và tiêu hủy. Đối với 01 áo phông màu đỏ, 01 quần bò màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn Th, tại phiên tòa Th khai không yêu cầu trả lại do vậy cho tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 giấy hẹn nhận kết quả đăng ký xe mang tên Trần Thị B không còn giá trị sử dụng cho tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng hai bị cáo khai bán chiếc camera mà hai bị cáo trộm cắp của anh Z, hai bị cáo chia nhau mỗi người 500.000 đồng, anh Z không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường do vậy đây là tiền thu lời bất chính do đó cần buộc hai bị cáo phải truy nộp số tiền này để sung quỹ nhà nước.

Hai bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th và bị cáo Lê Thanh Tu phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 6 (sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thanh Tu 9 (chín ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/5/2018.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về dân sự: Không.

Vật chứng:

Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi 5 màu xám và 01 điện thoại Nokia 105.

Tịch thu tiêu hủy 01 giấy hẹn nhận kết quả đăng ký xe mang tên Trần Thị B, 01 mũ lưỡi trai màu lông chuột, 01 mũ lưỡi trai màu nâu, 01 tuốc nơ vít tay cầm màu vàng, 01 kìm bấm tay cầm màu đỏ đen; 01 áo phông màu đỏ, 01 quần bò màu xanh.

Tất cả hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 7 năm 2018.

Buộc hai bị cáo phải truy nộp ngân sách nhà nước mỗi bị cáo 500.000 đồng.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo, vắng mặt người bị hại, Bị cáo Th và bị cáo Tu có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ