- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái A và bị cáo Hà Huỳnh Phong N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 22/2025/HS-ST Ngày: 18-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Long;
2. Ông Trần Văn Chon.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 234/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thái A, sinh năm: 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân: 079200006129 cấp ngày 03/3/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 655 đường Đ, ấp C, xã Đ, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái Bh, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ và con; anh chị em ruột gồm 02 người kể cả bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 05/01/2025 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Hà Huỳnh Phong N, sinh năm: 2001, tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân: 079201018593 cấp ngày 03/6/2024; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 6/1 đường T, ấp T, xã Đ, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn S, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ và con; anh chị em ruột gồm 02 người kể cả bị cáo.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 04/01/2025 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Diễm K; địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh P; địa chỉ: Ấp T, xã An Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
- Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Huỳnh Phong N bán pháo nổ qua mạng xã hội Facebook, tài khoản Facebook tên “Hà Huỳnh Phong N”. N có kết bạn trên mạng xã hội với một người thanh niên chưa rõ lai lịch, sử dụng tài khoản Facebook tên là “Trần Chính Thuần”. Vào sáng ngày 02/01/2025, người này đặt mua của N 03 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối, N báo giá 2.500.000 đồng/khối, người này đồng ý và hẹn giao dịch vào sáng ngày 03/01/2025 tại trước Công ty TNHH Đầu tư - Thương mại và Sản xuất Chính Phát, địa chỉ: tại Số 82 đường Trần Văn Chẩm, Ấp 3, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, N liên hệ Nguyễn Thái A, sử dụng tài khoản Facebook tên “Thái A” để đặt 03 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối. Đến khoảng 21 giờ ngày 02/01/2025, A đến nhà của N để giao cho N 02 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối, thời điểm đó N không có nhà nên A bỏ lên giường ở phía sau nhà N rồi ra về. Khi về tới nhà, N kiểm tra lại nhưng thấy không đủ số lượng như đã đặt liền nhắn tin cho “Trần Chính Thuần” để báo chỉ có 02 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối. Sau khi nhận được tin nhắn, tài “Trần Chính Thuần” không chịu nhận và yêu cầu phải đủ số lượng như đã đặt, người này còn đặt thêm 02 bịch pháo banh, loại 100 viên/bịch, N có báo giá là 650.000 đồng/bịch, người này đồng ý, hẹn thời gian giao dịch vào sáng ngày 04/01/2025 tại địa điểm củ.
N liên hệ với Nguyễn Thái A để đặt mua thêm 01 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối còn thiếu và 02 bịch pháo banh, loại 100 viên/bịch. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/01/2025, A giao cho N 01 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối còn thiếu và 02 bịch pháo banh, loại 100 viên/bịch tại trước Công ty TNHH Thang máy – Kỹ thuật điện HISA, địa chỉ tại Số 74, Đường 511, ấp Bàu Chứa, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi nhận đủ số lượng, N mang về nhà để tại giường ở phía sau nhà để sáng hôm sau mang đi giao. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/01/2025, N điều khiển xe mô tô, biển số 55Y6-4760 chở theo 03 khối pháo hoa nổ, loại 100 ống/khối chứa trong 01 túi xách màu đen và 02 bịch pháo banh, chứa trong 01 túi nilong màu trắng đến trước cổng Công ty TNHH Đầu tư - Thương và Sản xuất Chính Phát như đã hẹn để giao cho người sử dụng tài khoản Facebook “Trần Chính Thuần” thì bị Đội Cảnh sát kinh tế phối hợp với Công an xã Phước Vĩnh An kiểm tra, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang N về hành vi buôn bán hàng cấm, tạm giữ tang vật và đưa N về trụ sở để điều tra làm rõ. Hà Huỳnh Phong N khai nhận mua pháo nổ của Nguyễn Thái A.
Nguyễn Thái A khai nhận có bán pháo nổ cho Hà Huỳnh Phong N và sử dụng tài khoản messenger “Thái A” có gọi qua tài khoản messenger của Trần Nguyễn Minh K “Minh Khoa” (K là cháu của Nguyễn Thái A) để Khoa giao pháo cho N và báo điểm giao pháo. Sau đó, Khoa dùng xe máy Sirius, biển số: 59Y3-822.05 màu đen chở số pháo trên để đi giao cho N và Khoa về gặp An nhận tiền công là 100.000 đồng tiền mặt. Khoa không rõ số lượng, trị giá bao nhiêu và loại pháo gì.
Nguyễn Thái A là bạn của của Hà Huỳnh Phong N, A được Nguyễn Đình V giới thiệu Lê Tấn T để cho A liên lạc mua pháo thông qua mạng xã hội.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xác minh lai lịch nhân thân, thu thập ảnh của đối tượng Lê Tiến T, sinh ngày 25/11/1999; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Long An; kết quả Tới hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Ngày 29/05/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định truy tìm người số D1005/QĐTT-CSKT-Đ2 đối với Lê Tiến T.
Bản Kết luận giám định số 1423/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- 03 khối hình hộp kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 100 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm, dài 10cm được nối với nhau bằng dây dẫn (ký hiệu mẫu m, đã nêu ở mục II.1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 8,8kg.
- 02 gói nylon chứa các vật hình cầu, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn (ký hiệu mẫu m2, đã nêu ở mục II.1) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 0,8kg. Tổng khối lượng 9,6kg.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số: 55Y6-4760, số khung: JC4329AY, số máy: JC43E-5699920.
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Vario 125, biển số: 59Y3-740.79, số khung: MH1JM5117MK755986, số máy: JN51E1758599.
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số: 59Y3- 822.05, số khung: RLCUE3720NY113201, số máy: E32VE-633215.
- 02 khối hình hộp kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 100 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm, dài 10cm được nối với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng 5,8kg.
- 01 gói nylon chứa các vật hình cầu, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn có khối lượng 0,4kg.
- 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, hiệu Iphone 13, số IMEI 1: 356579553624928; Số ΙΜΕΙ 2: 356579553526438; Số seri: W29L54D59W, Màu: trắng.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, số IMEI 1: 353895107289643, Số IMEI 2: 353895107207561.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax; IMEI: 353101104740435, IMEI2: 353101104742043; Số Seri: G6TZ15WCKPHD.
Tại Bản cáo trạng số 291/CT-VKSCC ngày 18 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thái A và bị cáo Hà Huỳnh Phong N về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ cụ thể: Ngày 02/01/2025, tại số 6/1 đường Trần Thị Triên, ấp Bàu Tròn, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thái A đã bán 9,6 kg pháo nổ pháo nổ cho Hà Huỳnh Phong N. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 04/01/2025 tại đường Trần Văn Chẩm, trước cổng Công ty TNHH Đầu tư - Thương mại và Sản xuất Chính Phát, Số 82 đường Trần Văn Chẩm thuộc Ấp 3, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Hà Huỳnh Phong N mang toàn bộ số pháo đã mua đi bán cho người khác để kiếm lời thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thái A số tiền từ 110.000.000 đến 130.000.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Hà Huỳnh Phong N số tiền từ 100.000.000 đến 120.000.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử xét không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin vắng mặt, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án vắng mặt họ.
Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai của các bị cáo Nguyễn Thái A và Hà Huỳnh Phong N được thể hiện trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ cụ thể: Ngày 02/01/2025, tại số 6/1 đường Trần Thị Triên, ấp Bàu Tròn, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thái A đã bán pháo nổ pháo nổ cho bị cáo Hà Huỳnh Phong N theo kết luận của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh có tổng khối lượng 9,6kg. Ngày 04/01/2025 tại đường Trần Văn Chẩm, trước cổng Công ty TNHH Đầu tư - Thương mại và Sản xuất Chính Phát, Số 82 đường Trần Văn Chẩm thuộc Ấp 3, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Hà Huỳnh Phong N mang toàn bộ số pháo mua của bị cáo Nguyễn Thái A đi bán cho người khác để kiếm lời thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Các bị cáo khai nhận đã thu lợi bất chính mỗi bị cáo 400.000 đồng, số tiền này các bị cáo tiêu xài cá nhân. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ tham gia, vai trò của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm hại trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước. Bản thân các bị cáo nhận thức được pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm vận chuyển, buôn bán; việc buôn bán, vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nên đã phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với hành vi của các bị cáo thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong từng hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng. Trong vụ án này, vai trò của bị cáo Nguyễn Thái A là người cung cấp bán pháo nổ cho bị cáo N nên phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo N là phù hợp.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Nguyễn Thái A:
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính cho bị cáo số tiền 400.000 đồng, bị cáo được Ủy ban nhân dân xã Phạm Văn Hai tặng giấy khen đã thực hiện tốt nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh Covid – 19 trên địa bàn xã nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo Hà Huỳnh Phong N:
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính cho bị cáo số tiền 400.000 đồng nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Hà Huỳnh Phong N đã bị tạm giam từ ngày 04/01/2025, bị cáo Nguyễn Thái A đã bị tạm giam từ ngày 05/01/2025 đến nay cũng đủ để răn đe các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân và nếu không buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đồng thời, thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước nên Hội đồng xét xử xét quyết định áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo bị xử phạt hình phạt chính là phạt tiền, số tiền các bị cáo thu lợi bất chính không lớn nên không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số: 55Y6-4760, số khung: JC4329AY, số máy: JC43E-5699920 do bà Phạm Thị Diễm K đứng tên sở hữu, bà Kiều cho bị cáo N mượn để đi làm và không biết bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bà Kiều.
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Vario 125, biển số: 59Y3-740.79, số khung: MH1JM5117MK755986, số máy: JN51E1758599 do bị cáo Nguyễn Thái A sử dụng để phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số: 59Y3- 822.05, số khung: RLCUE3720NY113201, số máy: E32VE-633215 Trần Nguyễn Minh K sử dụng để giao pháo cho bị cáo N. Qua xác minh, ông Nguyễn Thanh P đứng tên sở hữu, ông Phong đã bán xe trên nhưng không nhớ ai là người mua. Ông P không có ý kiến gì, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 02 khối hình hộp kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 100 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm, dài 10cm được nối với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng 5,8kg, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- 01 gói nylon chứa các vật hình cầu, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn có khối lượng 0,4kg, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, hiệu Iphone 13, số IMEI 1: 356579553624928; Số ΙΜΕΙ 2: 356579553526438; Số seri: W29L54D59W, Màu: trắng của bị cáo N sử dụng vào mục đích phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, số IMEI 1: 353895107289643, Số IMEI 2: 353895107207561 của Nguyễn Đình V, Văn từ chối nhận lại, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax; IMEI: 353101104740435, IMEI2: 353101104742043; Số Seri: G6TZ15WCKPHD của bị cáo A sử dụng vào mục đích phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu lợi bất chính 400.000 đồng bị cáo Nguyễn Thái A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000720 ngày 17/7/2025 và 400.000 đồng; bị cáo Hà Huỳnh Phong N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001776 ngày 04/7/2025, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với Trần Nguyễn Minh K, sinh ngày 13/4/2009 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và chưa đủ căn cứ xác định khối lượng pháo nổ Khoa mang giao cho bị cáo N đã đủ 06kg hay không nên hành vi của Khoa không đủ cơ sở cấu thành tội phạm “Buôn bán hàng cấm”. Căn cứ Điều 134 Luật xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi tại khoản 68 Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính 2020, không áp dụng hình thức phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên không tiến hành xử lý hành chính đối với Trần Nguyễn Minh K, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với Nguyễn Đình V có hành vi cho bị cáo Nguyễn Thái A số điện thoại của Lê Tiến T để liên lạc mua pháo. Tuy nhiên, V không có hành vi khác giúp sức và không có động cơ hưởng lợi ích nên hành vi của V chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát Cảnh sát điều ra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Văn, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với Lê Tiến T và người đặt mua pháo của bị cáo N sử dụng tài khoản Facebook “Trần Chính Thuần” chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều ra đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án để điều tra, làm rõ về hành vi “Buôn bán hàng cấm” khi nào có kết quả, xử lý sau là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí, Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái A và bị cáo Hà Huỳnh Phong N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái A số tiền 120.000.000 (Một trăm hai mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Hà Huỳnh Phong N số tiền 110.000.000 (Một trăm mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Thái A và bị cáo Hà Huỳnh Phong N nếu các bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Vario 125, biển số: 59Y3-740.79, số khung: MH1JM5117MK755986, số máy: JN51E1758599.
- 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số: 59Y3- 822.05, số khung: RLCUE3720NY113201, số máy: E32VE-633215.
- 01 (Một) điện thoại di động màu trắng, hiệu Iphone 13, số IMEI 1: 356579553624928; Số ΙΜΕΙ 2: 356579553526438; Số seri: W29L54D59W, Màu: trắng.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax, số IMEI 1: 353895107289643, Số IMEI 2: 353895107207561.
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XsMax; IMEI: 353101104740435, IMEI2: 353101104742043; Số Seri: G6TZ15WCKPHD.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính 400.000 đồng bị cáo Nguyễn Thái A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000720 ngày 17/7/2025 và 400.000 đồng bị cáo Hà Huỳnh Phong N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001776 ngày 04/7/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 –Thành phố Hồ Chí Minh.
Trả cho bà Phạm Thị Diễm K: 01 (Một) xe gắn máy Nn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số: 55Y6-4760, số khung: JC4329AY, số máy: JC43E-5699920.
Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh tiêu hủy gồm:
- 02 khối hình hộp kích thước (24x24x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối chứa 100 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm, dài 10cm được nối với nhau bằng dây dẫn có tổng khối lượng 5,8kg, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- 01 gói nylon chứa các vật hình cầu, vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn có khối lượng 0,4kg, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Vật chứng trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số D326/PNK ngày 20/5/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thái A và bị cáo Hà Huỳnh Phong N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Áp dụng Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 8; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Cơ quan THADS; - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu: Vp, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Thị Thanh Thà |