- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 06-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hoài Mơ và bà Nguyễn Thị Yến.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 2000 tại xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Cầu G, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1973; con bà Thân Thị D, sinh năm 1977; vợ: Bàn Thị D, sinh năm 2001; bị cáo có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 09/11/2023 đến ngày 14/11/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
+ Bà Thân Thị D, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
+ Anh Phùng Văn M, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn R, xã L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 15 phút ngày 08/11/2023, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã Trường Sơn bắt quả tang Hoàng Văn T, sinh năm 2000 trú tại thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh, không gắn biển kiểm soát, trên xe có chằng, buộc 02 bao tơ dứa màu vàng (01 bao để ở bụng xe, 01 bao chằng phía sau) nghi vấn là hàng cấm (pháo nổ) đến dừng đỗ bên đường gần cổng Trường THCS Trường Sơn thuộc thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong 02 bao tơ dứa chứa các khối hình trụ tròn bên ngoài quấn giấy màu đỏ được liên kết với nhau bằng 01 dây màu xám tại thành tràng nghi là pháo nổ có tổng trọng lượng 24kg.
Vật chứng thu giữ gồm: 20 khối dạng hình trụ tròn, bên ngoài quấn kín bằng túi nilon màu trắng trong, bên trong gồm các vật hình trụ tròn, bên ngoài quấn giấy màu đỏ, được liên kết với nhau bằng dây màu xám tạo thành tràng, nghi là pháo nổ được niêm phong trong 02 thùng cát tông; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh than được niêm phong trong 01 phong bì; 02 bao tơ dứa màu vàng (bao tơ dứa cũ, đã qua sử dụng); 01 dây chạc màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng); 01 xe máy nhãn hiệu Exciter màu xanh không có biển kiểm soát; 01 ví da màu nâu; 01 thẻ căn cước công dân số 024200008673 mang tên Hoàng Văn T.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở Hoàng Văn T tại thôn C, xã T, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thu giữ:
+ 106 khối trụ tròn được cuốn bằng giấy đỏ, đầu có gắn dây dẫn, trọng lượng 2,1kg; 0,2kg dây ngòi đựng trong hộp nhựa; 0,6kg chất bột màu đen được đựng trong túi bóng (nghi là thuốc pháo); 4,1kg chất bột màu trắng được đựng trong hộp nhựa màu vàng có nắp đậy tại phòng vệ sinh gầm cầu thang tầng 1. Tất cả được niêm phong trong một thùng bìa cát tông ký hiệu “MKX1”.
+ 03 kéo, 01 kìm, 01 thước mét; 01 thanh sắt lục giác được uốn cong một đầu; 01 dao cắt được gắn đế bằng gỗ thu giữ tại phòng vệ sinh gầm cầu thang tầng 1 và 0,9kg lọ nhựa keo 502; 1,1kg lọ nhựa keo 502 chưa sử dụng; giấy đỏ, 06 cuốn lõi màng bọc thực phẩm có trọng lượng 1,9kg; 11 cuộn băng dính màu vàng đường kính 0,6cm; 01 xô nhựa màu đen chứa 5,3kg cát tại gian nhà ngang. Tất cả được niêm phong trong 01 thùng cát tông theo quy định.
Ngày 08/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã ban hành quyết định trưng cầu giám định số 314/QĐ-CQCSĐT giám định số mẫu vật nghi là pháo nổ đã thu giữ. Tại kết luận giám định số 2196/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
Trong 01 thùng bìa cát tông được niêm phong gửi giám định:
- 05 khối dạng hình trụ bên ngoài mỗi khối được bọc kín bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi khối gồm nhiều vật hình trụ được cuốn bằng giấy màu đỏ có gắn các sợi dây dẫn được liên kết với nhau tạo thành tràng đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 6,0 kg.
Trong 01 thùng bìa cát tông được niêm phong gửi giám định:
-15 khối dạng hình trụ bên ngoài mỗi khối được bọc kín bằng nilon màu trắng, bên trong mỗi khối gồm nhiều vật hình trụ được cuốn bằng giấy màu đỏ có gắn các sợi dây dẫn được liên kết với nhau tạo thành tràng đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 18,0 kg.
Trong 01 thùng bìa cát tông có ký hiệu “MKX1” được niêm phong gửi giám định:
- 106 vật hình trụ được cuốn bằng giấy màu đỏ có gắn dây dẫn được đựng trong 01 túi nilon màu xanh đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 2,2kg.
- Các đoạn dây dẫn đựng trong 01 hộp nhựa là dây ngòi pháo, có khối lượng 76,16gam.
- Trong mẫu chất bột màu đen (đựng trong 01 túi nilon) có tìm thấy chất Kali clorat (KCLO3), Bột than (Cacbon –C). Khối lượng của mẫu chất bột màu đen là 0,6kg.
- Trong mẫu chất bột màu trắng đựng trong 01 hộp nhựa màu vàng có lắp đậy có tìm thấy chất Kali clorat (KCLO3), Lưu huỳnh (S). Khối lượng của mẫu chất bột màu trắng là 4,2kg.
Kali clorat (KCLO3), Bột than (Cacbon –C), Lưu huỳnh (S) đều là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo.
Quá trình điều tra Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng tháng 11/2023, T lên mạng xã hội tìm hiểu cách sản xuất pháo nổ thủ công để bán kiếm lời. T đặt mua Kali Clorat (KCLO3), bột lưu huỳnh (S) trên các trang mạng xã hội (Lazada hoặc Shoppe), sau đó mua dao, kéo, kìm, thước mét, keo 502, giấy đỏ, màng bọc thực phẩm ... ở các cửa hàng tạp hóa, cát, bột than T lấy ở nhà. Sau khi chuẩn bị các dụng cụ, nguyên liệu xong, T một mình thực hiện hành vi sản xuất pháo tại gian nhà bếp cũ của gia đình, cách thức T thực hiện hành vi sản xuất pháo như sau:
Bước 1: Lấy một lượng thuốc pháo (tỉ lệ 06 phần bột than, 05 phần KCLO3 và 02 phần bột lưu huỳnh) trải lên màng bọc thực phẩm, cuộn tròn lại dùng kìm kéo dài ra rồi cắt thành từng đoạn dài khoảng 05 cm tạo thành ngòi pháo.
Bước 2: Dùng giấy đỏ gập lại rồi dùng ống định hình lòng quả pháo, cuộn tròn lại rồi dùng keo 502 cố định lại. Dùng thước đo chiều dài quả pháo khoảng 05cm rồi lấy kéo cắt thành từng vỏ pháo.
Bước 3: Dùng phễu tra cát vào đáy quả pháo, dùng keo 502 cố định một đầu quả pháo, tiếp tục dùng phễu tra thuốc pháo (tỉ lệ 3 phần bột KCLO3 và 01 phần bột lưu huỳnh) vào lòng quả pháo, tra ngòi vào lòng quả pháo, tiếp tục dồn thuốc pháo chặt lại, tra cát xung quanh ngòi pháo và dùng keo 502 cố định đầu còn lại của quả pháo là được một quả pháo thành phẩm.
Bước 4: Dùng băng dính cố định các ngòi quả pháo vào một ngòi dẫn tổng để tạo thành tràng pháo, mỗi tràng pháo dài 01 mét và có khoảng 60 quả pháo.
Bước 5: Cuộn tròn pháo lại, dùng màng bọc thực phẩm bọc xung quanh bên ngoài để tránh bị ẩm và giữ cho quả pháo không bị rơi ra ngoài trong quá trình vận chuyển.
Ngày 04/11/2023, có một nam thanh niên tên M, sinh năm 2000 trú tại xã L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, có tài khoản Facebook là “M Ngơ” nhắn tin qua tài khoản Facebook “T Motor” của T để đặt mua 20 tràng pháo nổ với giá 350.000 đồng/01 tràng pháo, T đồng ý và hẹn đến ngày 08/11/2023 sẽ giao hàng. Trong khoảng thời gian từ ngày 04/11/2023 đến ngày 08/11/2023 T đã tự mình sản xuất được 20 tràng pháo nổ. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/11/2023, T cho cho 20 tràng pháo vào 02 bao tơ dứa chở đến khu vực cổng Trường THCS Trường Sơn để giao cho M, khi T dừng xe chờ giao pháo cho M thì bị lực lượng Công an huyện Lục Nam kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật, phương tiện.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã tiến hành thực nghiệm điều tra cho Hoàng Văn T thực hiện lại hành vi thủ công sản xuất pháo nổ, kết quả T thực hiện thuần thục phù hợp với lời khai của T cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Đối với nam thanh niên tên M đặt mua pháo của T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã tiến hành xác minh xác định đối tượng tên Phùng Văn M, sinh năm 2000 trú tại thôn R, xã L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Quá trình làm việc, M khai nhận không quen biết T, không có bất kỳ mối quan hệ nào với T, không có việc liên hệ, trao đổi mua bán pháo nổ vào ngày 08/11/2023. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã tiến hành cho T và M đối chất. Kết quả, T và M vẫn giữ nguyên lời khai nên không làm rõ được các mâu thuẫn, do đó không có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của Phùng Văn M.
Đối với ông Hoàng Văn Đ (là bố đẻ của T), bà Thân Thị D (là mẹ đẻ của Trung) và chị Bàn Thị D (là vợ của T), quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi sản xuất và cất giấu pháo nổ của T nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh không có biển kiểm soát, số khung RLCUG0610FY103052, số máy G3D4E-115168 thu giữ trong quá trình bắt quả tang T. Kết quả điều tra xác định là tang vật trong vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/12/2022 tại khu công nghiệp Q, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giải quyết theo thẩm quyền.
Về vật chứng: 02 thùng cát tông được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông ký hiệu “MKX1” được niêm phong, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông được niêm phong thu giữ khi khám xét tại nhà T; 02 bao tơ dứa màu vàng (bao tơ dứa cũ, đã qua sử dụng); 01 dây chạc màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh than; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T; 01 ví da màu nâu, hiện đang được bảo quản để chờ xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 29/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội“Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho UBND xã T, huyện Lục Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T và 01 ví da màu nâu. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh than. Tịch thu tiêu hủy 02 thùng cát tông được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông ký hiệu “MKX1” được niêm phong, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông được niêm phong thu giữ khi khám xét tại nhà T; 02 bao tơ dứa màu vàng (bao tơ dứa cũ, đã qua sử dụng); 01 dây chạc màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng).
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng tháng 11/2023 Hoàng Văn T lên mạng xã hội tìm hiểu cách sản xuất pháo nổ thủ công với mục đích để bán kiếm lời, Hoàng Văn T đã truy cập vào các mạng xã hội (Lazada hoặc Shoppe) đặt mua các nguyên liệu để sản xuất pháo nổ gồm: Kali Clorat (KCLO3), bột lưu huỳnh (S) và mua Kéo, kìm, thước mét...để sản xuất pháo nổ. Trong khoảng thời gian từ ngày 04/11/2023 đến ngày 08/11/2023, Hoàng Văn T sản xuất thủ công được tổng cộng 26,2 kg pháo nổ (trong đó có 20 tràng pháo nổ thành phẩm với tổng trọng lượng là 24 kg và 106 vật hình trụ là pháo nổ, có tổng khối lượng 2,2kg).
Đến hồi 19 giờ 15 phút ngày 08/11/2023, khi Hoàng Văn T đang có hành vi đem 20 tràng pháo nổ thành phẩm với tổng khối lượng là 24 kg với mục đích để bán cho một người thanh niên sử dụng Facebook tên “M Ngơ” ở khu vực cổng Trường THCS T thuộc thôn C, xã T, huyện Lục Nam thì bị Công an huyện Lục Nam phối hợp với Công an xã T, huyện Lục Nam kiểm tra bắt quả tang.
Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có 01 bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm (trong đó có pháo nổ), đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Nhà nước ta đó có nhiều chủ chương đẩy mạnh việc nghiêm cấm các hành vi sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển pháo nổ. Chúng ta đều biết, mọi hành vi liên quan đến việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo đều bị Nhà nước nghiêm cấm, bởi chúng có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, trực tiếp đe doạ an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản của mọi cá nhân, tổ chức. Các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, cảnh báo mọi người dân phải tránh xa và phải nghiêm túc thực hiện các quy định của Nhà nước về vấn đề này. Đấu tranh phòng chống việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán, vận chuyển và sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo là nhiệm vụ của mọi công dân và của toàn xã hội.
Bị cáo Trung đã có hành vi sản xuất thủ công được tổng cộng 26,2 kg pháo nổ rồi mang 24kg pháo nổ thành phẩm với mục đích bán cho anh M. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội và bà nội được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do vậy, cần áp dụng Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bản thân bị cáo hiểu biết pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án tiền sự, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, cần phạt tiền bị cáo Hoàng Văn Trung theo quy định tại khoản 4 Điều 190 BLHS để tước một phần kinh tế của bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với nam thanh niên tên M đặt mua pháo của T. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã tiến hành xác minh xác định đối tượng tên Phùng Văn M, sinh năm 2000 trú tại thôn R, xã L, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Quá trình làm việc, M khai nhận không quen biết T, không có bất kỳ mối quan hệ nào với T, không có việc liên hệ, trao đổi mua bán pháo nổ vào ngày 08/11/2023. Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã tiến hành cho T và M đối chất. Kết quả, T và M vẫn giữ nguyên lời khai nên không làm rõ được các mâu thuẫn, do đó không có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của Phùng Văn M, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với ông Hoàng Văn Đ (là bố đẻ của T), bà Thân Thị D (là mẹ đẻ của T) và chị Bàn Thị D (là vợ của T), quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi sản xuất và cất giấu pháo nổ của Trung nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam không đề cập xử lý là có căn cứ, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Về vật chứng: Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh không có biển kiểm soát, số khung RLCUG0610FY103052, số máy G3D4E-115168 thu giữ trong quá trình bắt quả tang T. Kết quả điều tra xác định là tang vật trong vụ việc trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/12/2022 tại khu công nghiệp Q, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Nam đã bàn giao chiếc xe trên cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giải quyết theo thẩm quyền, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với 02 thùng cát tông được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông ký hiệu “MKX1” được niêm phong, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông được niêm phong thu giữ khi khám xét tại nhà T; 02 bao tơ dứa màu vàng (bao tơ dứa cũ, đã qua sử dụng); 01 dây chạc màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng) là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh than là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T; 01 ví da màu nâu không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Trung, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Hoàng Văn T cho UBND xã T, huyện Lục Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 02 thùng cát tông được niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông ký hiệu “MKX1” được niêm phong, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 thùng cát tông được niêm phong thu giữ khi khám xét tại nhà Trung; 02 bao tơ dứa màu vàng (bao tơ dứa cũ, đã qua sử dụng); 01 dây chạc màu vàng (đã cũ, đã qua sử dụng).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh than của bị cáo Hoàng Văn T.
Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn T; 01 ví da màu nâu.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và 333- BLTTHS
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Nam; - Chi Cục THADS huyện Lục Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Oanh |