vanban.org

Bản án 22/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Phan Văn L 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ khi bắt bị cáo để thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản";
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 22/2023/HS-ST
Ngày: 16/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Trường Vũ;

2. Ông Huỳnh Thanh Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 03/01/2023 đối với bị cáo:

Phan Văn L, sinh ngày 03/6/2006; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm A, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo phật; con ông Phan Văn T, sinh năm 1968 (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người nhỏ; bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã T ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/11/2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; nơi thường trú: khóm A, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;

- Bị hại: Huỳnh Văn V, sinh năm 2005; Nơi cư trú: khóm H, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;

Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Bà Châu Ngọc D, sinh năm 1981; Nơi cư trú: khóm H, phường S, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lâm Quốc T, sinh năm 1982, nơi cư trú: Ấp C, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt;

+ Cháu Lâm Thanh N, sinh ngày 13/11/2007, nơi cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;

Người đại diện theo pháp luật cho Lâm Thanh N: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp T, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Phước A – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước – Sở Tư pháp tỉnh An Giang; Địa chỉ: đường K, phường P, thành phố X, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 06/10/2022, Phan Văn L điều khiển xe môtô, biển số 67H1-136.28 đến phòng trọ của Huỳnh Văn V thuê tại nhà trọ L (khóm A, phường T, thị xã T), để rủ V đi làm thuê. Tại đây, L nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, đang để trên kệ bếp sạc pin, cửa phòng trọ đang khép hờ, không khóa, V và H đang ngủ. L lén lút đột nhập, lấy trộm điện thoại đem đến tiệm điện thoại của Lâm Quốc T tại ấp C, xã A, thị xã T bán được 1.800.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, V phát hiện điện thoại bị mất nên đến Công an phường T trình báo vụ việc.

Đến ngày 10/10/2022, Công an phường T mời làm việc, L khai nhận hành vi phạm tội, chuộc lại điện thoại, giao nộp Cơ quan Công an.

Ngày 21/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Phan Văn L về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đối với vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, đã qua sử dụng (đã trao trả bị hại).

- 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ-đen, biển số 67H1-136.28, đã qua sử dụng (đã trao trả cho chủ sở hữu).

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 367/KL-HĐĐG.TTHS ngày 21/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, đã qua sử dụng. Trị giá 4.400.000 đồng.

Cáo trạng số 69/CT-VKSTC ngày 20 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố bị cáo Phan Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Văn L về tội“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn L tội “Trộm cắp tài sản”

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Văn L mức án từ 03 tháng đến 04 tháng tù.

Huỳnh Văn V, Lâm Quốc T, Lâm Thanh N, Châu Ngọc D, Nguyễn Thị M trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại V khai: đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho Linh.

Ngoài ra, Nguyễn Thị M còn trình bày: Bà Mai là chủ sở hữu xe mô tô biển số 67H1-136.28, giao cho L sử dụng để đi làm thuê, không biết việc L lấy trộm điện thoại, đã nhận lại xe, không có yêu cầu khác.

Lâm Quốc T trình bày: Khi mua điện thoại do L bán, Trung không biết do trộm cắp mà có.

Hội đồng xét xử công bố Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên về việc kết luận bị cáo Phan Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo chưa đủ 17 tuổi, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện chuộc điện thoại để giao nộp cho Cơ quan Công an để trao trả cho bị hại, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của Huỳnh Văn V theo nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Phan Văn L bị Cơ quan điều tra - Công an thị xã T khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại khóm A, phường T, thị xã T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Quốc T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 07 giờ ngày 06/10/2022, Phan Văn L điều khiển xe môtô, biển số 67H1-136.28 đến phòng trọ của Huỳnh Văn V thuê tại nhà trọ L (khóm A, phường T, thị xã T), để rủ V đi làm thuê. Tại đây, L nhìn thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, đang để trên kệ bếp sạc pin, cửa phòng trọ đang khép hờ, không khóa, V và H đang ngủ. L lén lút đột nhập, lấy trộm điện thoại đem đến tiệm điện thoại của Lâm Quốc T tại ấp C, xã A, thị xã T bán được 1.800.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.

Bị cáo L có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo L có đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu truy tố hành vi phạm tội của bị cáo L là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và không làm oan cho bị cáo. Quan điểm Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 tháng đến 04 tháng tù.

Hình phạt:

Bị cáo khi phạm tội chưa đủ 17 tuổi, nhưng là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc “Trộm cắp tài sản” của người khác là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nhưng do bản tính tham lam, chay lười lao động, xem thường pháp luật nên đã thúc đẩy bị cáo phạm tội, đây cũng là nguyên nhân và động cơ phạm tội của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của Huỳnh Văn V một cách trái pháp luật, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo L để răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo và người nhà bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, nhận thức pháp luật có phần hạn chế là tình tiết giảm nhẹ theo quy định theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M51 màu đen, đã qua sử dụng đã trao trả bị hại. 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ-đen, biển số 67H1-136.28, đã qua sử dụng, đã trao trả cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị M, nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra đã chứng minh được bị cáo L lấy trộm điện thoại của Huỳnh Văn V trị giá 4.400.000 đồng. V đã nhận lại điện thoại và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Phan Văn L là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như mức hình phạt đối với bị cáo về cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Phan Văn L 04 (bốn) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ khi bắt bị cáo để thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: đã xử lý trong giai đoạn điều tra, có căn cứ và đúng quy định nên không đề cặp giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ