- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Đ và Đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Trương Xuân T, Quách Văn M, Nguyễn Văn H, Bùi Khắc B phạm tội: “ Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày: 23 - 03 - 2022 Nh©n danh NƯỚC céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH THANH HÓA
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö sơ thẩm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Lê Văn Quân
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Nguyễn Thị Hà; Ông Đinh Văn Tân.
Thư ký phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyÖn Th¹ch Thµnh, tØnh Thanh Ho¸.
§¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyÖn Th¹ch Thµnh, tØnh Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ: Bà Nguyễn Thị Hoàn -Kiểm sát viên.
Ngµy 23/03/2022 t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Th¹ch Thµnh, tỉnh Thanh Hóa xÐt xö s¬ thÈm công khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 10/2022/HSST ngµy 26 th¸ng 01 n¨m 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HS, ngày 24/02/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/HSST-ST ngày 10 tháng 03 năm 2022 và ®èi víi các bÞ c¸o:
1. Nguyễn Anh Đ; sinh ngày: 15/11/1985; tại: xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn MH, xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình N, sinh năm: 1952; con bà: Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1950; Có vợ là Lục Thị N1 - Sinh năm 1989 và 02 con: Lớn nhất 08 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 17/12/2020, bị Công an xã TM, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 22/12/2021, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay;
2. Bùi Khắc B; sinh ngày: 02/05/1960; tại: xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn ML, xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 02/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Khắc TH (đã chết); con bà: Nguyễn Thị L (Đã chết); Có vợ là Lê Thị T - Sinh năm 1960 và có 04 con: Lớn nhất 35 tuổi - nhỏ nhất 29 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 22/12/2021, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay;
3. Trương Xuân T; sinh ngày: 24/8/1984; tại: xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn ML, xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Xuân TA (đã chết); con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1945; có vợ là Nguyễn Thị TU, sinh năm: 1985 và có 01 con là Trương Quỳnh CH, sinh năm: 2014; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 22/12/2021, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay;
4. Nguyễn Văn H; sinh ngày: 08/3/1995; tại: xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn SC, xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H O, sinh năm 1958; con bà: Vũ Thị N U, sinh năm: 1964; Có vợ là Nguyễn Thu H A, sinh năm 1993 và 03 con: Lớn nhất 05 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 22/12/2021, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay;
5. Quách Văn M; sinh ngày: 20/9/1986; tại: xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn NN, xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quách Văn V, sinh năm 1959; con bà: Lê Thị Liên, sinh năm 1960; Có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1991 và 03 con: Lớn nhất 12 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị can bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/12/2021cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 18/12/2021, Nguyễn Anh Đ (SN 1985, trú tại thôn MH, xã TM, huyện T), Trương Xuân T (SN 1984, trú tại thôn ML, xã TM, huyện T), Nguyễn Văn H (SN 1995 trú tại thôn SC, xã TM, huyện T) và Quách Văn M (SN 1986, trú tại thôn NN, xã TT, huyện T) cùng đến nhà ở của Bùi Khắc B (SN 1960 trú tại thôn ML, xã TM, huyện T) và ngồi uống nước tại nhà ở của B (khi đó gia đình B không có người ở nhà). Ngồi uống nước được một lúc thì Đ, T, M, H cùng rủ nhau xuống gian phòng bếp nhà ông B để đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh ba cây cầm chương, mỗi ván đặt cửa 50.000 đồng. Đánh bạc được khoảng 05 phút thì H bị thua hết tiền nên ngồi bên cạnh xem. Lúc này, Bùi Khắc B đi về thấy những người nói trên đang đánh bạc thì cùng tham gia đánh bạc. T, Đ, M, B đánh bạc với nhau đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Công an thu giữ tại chiếu tại chiếu bạc số tiền 18.150.000 đồng, 36 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng. Quá trình bắt quả tang M không thừa nhận việc tham gia đánh bạc. Tuy nhiên đến ngày 20/12/2021 biết không thể trốn tránh được nên Quách Văn M đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.
Về vật chứng vụ án: Thông qua bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Tiền Việt Nam đồng: 18.150.000 đồng; 01 bộ bà tú lơ khơ 36 cây; 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng. Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTT, ngày 25/01/2022,VKSND huyện T đã truy tố các bị cáo Bùi Khắc B, Trương Xuân T, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Văn H, Quách Văn M về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 đối với các bị cáo; Áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo M, H, T, B; Áp dụng Điều 38 cho bị cáo Nguyễn Anh Đ;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án nhưng được trừ đi ngày tạm giữ từ ngày 18 đến 22/12/2021.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Xuân T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt: Bị cáo Quách Văn M từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Khắc B từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 18.150.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 36 lá bài Tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo B, bị cáo H xuất trình giấy xác nhận ủng hộ quỹ Covid-19 cho Mặt trận tổ quốc Việt Nam.
Các bị cáo tại phiên tòa đều thừa nhận hành vi như bản cáo trạng mô tả và truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người đúng tội.
Tại phần tranh tụng các bị cáo đều T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện T trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa các bÞ c¸o đều đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phu hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, hiện trường vụ án, vật chứng vµ nh÷ng tµi liÖu, chứng cứ khác thu thËp được cã trong hå s¬ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi đánh bạc dưới hình thức “Ba cây cầm chương”, được thua với nhau bằng tiền, tại gian phòng bếp nhà Bùi Khắc B B (SN 1960 trú tại thôn ML, xã TM, huyện T) vào ngày 18/12/2021 của các bị cáo Bùi Khắc B, Trương Xuân T, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Văn H, Quách Văn M đã phạm vào tội “Đánh bạc”.Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc được xác định là 18.150.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện T truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, vai trò và trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án: Đối với các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, đây là vụ án ít nghiêm trọng, các bị cáo đồng phạm có tính chất giản đơn do Nguyễn Anh Đ và các đồng phạm thực hiện. Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, làm mất an ninh trật tự xã hội, xâm phạm đến nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm đồng thời làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác. Hội đồng xét xử xét thấy cần xét xử các bị cáo một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Trong đó các bị cáo Trương Xuân T, Nguyễn Anh Đ, Quách Văn M là những người thực hiện hành vi đánh bạc nhiều hơn bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Khắc B nên có vai trò cao hơn bị cáo bị cáo H và bị cáo B vì vậy trách nhiệm hình sự cũng cao hơn bị cáo H, B là phù hợp.
. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “T khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, các bị cáo T, Đ còn có thêm tình tiết giảm nhẹ “bố là người có công với cách mạng” và bị cáo M có thêm tình tiết là “Đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo H, B và bị cáo M xuất trình cho tòa án Giấy xác nhận ủng hộ Covid-19 cho đại diện Mặt trận tổ quốc Việt Nam tại địa phương thấy được các bị cáo đã ăn năn hối cải, có ý thực trách nhiệm với cộng đồng xã hội nên HĐXX áp dụng Khoản 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo. Những tình tiết này cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo. Về trách nhiệm hình sự, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này đối với bị cáo B và bị cáo H tham gia thời gian ít hơn các bị cáo khác, số tiền dùng đánh bạc ít hơn nên trách nhiệm hình sự của hai bị cáo thấp hơn các bị cáo khác là phù hợp. Đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, năm 2020 bị công an xử phạt về hành vi đánh bạc không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội vì vậy HĐXX xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo T công dân có ích. Các bị cáo Bùi Khắc B, Trương Xuân T, Nguyễn Văn H, Quách Văn M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 BLHS và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở T người công dân có ích cho xã hội và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 18.150.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.Vật chứng là 36 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Về áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền: Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại các bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Anh Đ, Trương Xuân T, Quách Văn M, Nguyễn Văn H, Bùi Khắc B phạm tội: “ Đánh bạc”.
Áp dụng: Khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 đối với bị cáo Nguyễn Anh Đ, Trương Xuân T, Quách Văn M, Nguyễn Văn H, Bùi Khắc B. (Áp dụng thêm Điều 65 BLHS cho các Trương Xuân T, Quách Văn M, Nguyễn Văn H, Bùi Khắc B và áp dụng Điều 38 BLHS cho bị cáo Nguyễn Anh Đ).
Xử phạt:
1.Bị cáo Nguyễn Anh Đ 10(mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án nhưng được trừ đi ngày tạm giữ (từ ngày 18/12 đến ngày 22/12/2021)
2.Bị cáo Trương Xuân T 10(mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Bị cáo Quách Văn M 10(mười) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Bị cáo Bùi Khắc B 08(tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5. Bị cáo Nguyễn Văn H 08(tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Bùi Khắc B, Trương Xuân T, Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã TM, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Quách Văn M cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Áp dụng: điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 18.150.000 đồng (Mười tám triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy: 36 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng.
Số tiền trên được đựng trong phong bì được dán kín, niêm phong mặt trước in chữ Công an tỉnh Thanh Hóa, mặt sau có chữ ký và ghi họ tên đầy đủ của Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Hưu Tài và 03 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa; 36 lá bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa kích thước (1,6x1,8)cm, màu xanh-đỏ-trắng-vàng hiện đang được quản lý, lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện T (Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và chi cục Thi hành án dân sự huyện T ngày 22/02/2022).
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện T; - Chi cục THADS T; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Lê Văn Quân |