- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2022/HS-ST Ngày 20-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Ngọc
Bà Đoàn Thị Tiến
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, thành phố H.
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, thành phố H và tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Vũ Trọng T, sinh ngày 15/3/1991 tại tỉnh Q. Nơi cư trú: Thôn 1, xã X, huyện C, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Trọng B và bà Lê Thị L; có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1993, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 15/8/2022; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Bùi Thanh B, anh Nguyễn Phương K, anh Vũ Tiến C, anh Hoàng Xuân Đ, anh Trần Thanh L, anh Mạc Quang L, anh Nguyễn Văn C; có mặt.
Anh Phạm Văn C, anh Hoàng Văn K, anh Trần Anh C, chị Trịnh Thị H, Lê Văn T và Lê Minh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C nhận được tin báo từ Công an xã X về việc Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1988, trú tại thôn 2, xã X, huyện C, Hải Phòng bị chết do ngộ độc chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã xác minh làm rõ: Khoảng 11 giờ ngày 15/3/2020 Vũ Trọng T mời một số người bạn đến nhà T ở thôn 1 xã X, huyện C, Hải Phòng để dự sinh nhật. Sau khi ăn uống xong, khoảng 13 giờ 30’ cùng ngày, T và những người bạn cùng dự sinh nhật thuê xe ô tô 29 chỗ BKS 15B – 03.356 của anh Hoàng Văn K đi hát Karaoke tại quán STAR tổ dân phố 18, thị trấn Cát Bà. Trên xe ô tô có Vũ Trọng T, Vũ Tiến C, Phạm Văn C, Mạc Quang L, Bùi Thanh B, Trần Thanh L, Nguyễn Phương K, Hoàng Xuân Đ, Nguyễn Văn C đều trú tại xã X; Phạm Thị N ở xã Phù Long và 03 người bạn của T là Mạnh, Hà, Kiên ở nội thành Hải Phòng và tỉnh Phú Thọ (chưa rõ lai lịch, địa chỉ). Trên đường xe ô tô di chuyển từ xã X về thị trấn Cát Bà, T lấy một túi nilon thuốc lắc loại viên nén màu xanh đã chuẩn bị từ trước phát cho Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Mạc Quang L, Hoàng Xuân Đ, Bùi Thanh B, Trần Thanh L mỗi người một viên thuốc lắc, Phạm Văn C nửa viên để cho mọi người sử dụng. Vũ Trọng T, Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Bùi Thanh B sử dụng ngay trên xe ô tô, Hoàng Xuân Đ cầm ma túy đến phòng hát Karaoke sử dụng, Trần Thanh L, Mạc Quang L không sử dụng đưa lại ma túy cho T, Phạm Văn C gói nửa viên ma túy bằng giấy vệ sinh cất giấu vào khe ghế phụ C ngồi. Còn Trần Anh C cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Văn C và Trịnh Thị H cùng là bạn được Vũ Trọng T mời dự sinh nhật tại xã X đi xe ô tô của Chiến đến quán hát Karaoke. Khi đến quán hát, T và những người bạn đi chung được Lê Minh T quản lý phòng hát bố trí hát tại phòng 503 quán Star và phục vụ bia và đồ ăn. Quá trình hát Karaoke, Bùi Thanh B, Vũ Tiến C, Hoàng Xuân Đ, Trần Thanh L có sử dụng ma túy cần sa; Điệp còn sử dụng ma túy Ketamine; Mạc Quang L, Nguyễn Văn C uống coca có pha ma túy, nhưng do mọi người say rượu, chỉ thấy ma túy để sẵn trên bàn hát nên tự sử dụng và đưa cho nhau sử dụng, không biết ma túy do ai cung cấp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Thanh T bị ngã tại phòng hát và có biểu hiện co giật, nên được đưa đi cấp cứu. Ngày 16/3/2020 Tuyền tử vong tại Bệnh viện. Sau khi xảy ra sự việc, Vũ Trọng T đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 07/12/2021, Vũ Trọng T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú và khai nhận: Ngày 12/3/2020 Vũ Trọng T vào khu vực đường tàu Cầu Đất, quận Lê Chân, Hải Phòng mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy, loại thuốc lắc viên nén màu xanh với giá 2.000.000 đồng, T đem về nhà cất giấu. Ngày 15/3/2020, T mời bạn bè đến nhà tổ chức sinh nhật, sau khi ăn uống xong, T nhờ Phạm Văn C thuê xe ô tô 29 chỗ BKS 15B – 03.356 đến quán Karaoke Star ở thị trấn Cát Bà hát, trên xe T lấy túi thuốc lắc phát cho Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Mạc Quang L, Hoàng Xuân Đ, Bùi Thanh B, Trần Thanh L và Phạm Văn C người nửa viên, người một viên để cho mọi người sử dụng, T trực tiếp sử dụng 01 viên trên xe. Đến phòng hát Karaoke do T say rượu nên nằm ngủ, việc những người trong phòng hát sử dụng ma túy gì, sử dụng như thế nào T không biết.
Tại phiên tòa, những người làm chứng có mặt khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Ngày 15/3/2020, sau khi dự sinh nhật tại nhà T xong, khoảng 13 giờ 30’ cùng ngày, T rủ mọi người đi hát Karaoke ở thị trấn Cát Bà. T thuê xe ô tô 29 chỗ BKS 15B – 03.356, trên đường từ xã X xuống thị trấn Cát Bà, T lấy ra 01 túi ma túy viên ném màu xanh phát cho Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Mạc Quang L, Hoàng Xuân Đ, Bùi Thanh B, Trần Thanh L một viên và Phạm Văn C nửa viên. Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Bùi Thanh B và Hoàng Xuân Đ đã sử dụng; Trần Thanh L, Mạc Quang L không sử dụng đưa ma túy lại cho T; Phạm Văn C không sử dụng mà cất giấu ma túy tại khe ghế phụ chỗ Chuyên ngồi. Tại Phòng hát Karaoke Bùi Thanh B, Vũ Tiến C, Hoàng Xuân Đ, Trần Thanh L có sử dụng ma túy cần sa; Điệp sử dụng ma túy Ketamine; Long uống coca có pha sẵn ma túy, tuy nhiên không biết ai là người cung cấp chất ma túy.
Trần Anh C cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh T, Nguyễn Văn C và Trịnh Thị H đi xe ô tô của Chiến đến sau; Chiến, Cảnh, Hạnh không được T phát ma túy để sử dụng. Tại phòng hát Cảnh là người sử dụng ma túy được pha sẵn trong cốc coca do bạn T đưa, còn Chiến và Hạnh không sử dụng ma túy và không biết ai là người cung cấp chất ma túy Cần sa, Ketamine, Amphetamine trong phòng hát Karaoke. Chiến, Cảnh, Hạnh không nhìn thấy Tuyền sử dụng ma túy.
Khám nghiệm hiện trường trên xe ô tô 29 chỗ BKS 15B – 03.356, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ 01 mảnh viên nén màu xanh được gói trong mảnh giấy vệ sinh bên khe ghế phụ của nơi Phạm Văn C ngồi trên xe.
Khám nghiệm hiện trường tại phòng hát 503 quán Karaoke Star, Cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật gì liên quan đến việc các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát.
Kết luận giám định số 135 ngày 22/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: Mảnh viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,07 gam, loại MDMA.
Kết luận giám định số 55 ngày 09/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị Thanh T do suy đa tạng không hồi phục do ngộ độc chất ma túy.
Kết quả phân tích số 24 ngày 20/3/2020 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy Ketamin trong mẫu máu của Nguyễn Thị Thanh T.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 21/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, thành phố H truy tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Trọng T từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 15/8/2022. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì bị cáo không có tài sản riêng, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/3/2020, Vũ Trọng T thuê xe ô tô 29 chỗ BKS 15B-03.356 để chở T và những người bạn của T đi hát Karaoke, trên đường xe ô tô di chuyển từ xã X đến thị trấn Cát Bà, huyện C, thành phố H, Vũ Trọng T đã cung cấp trái phép chất ma túy cho Vũ Tiến C, Nguyễn Phương K, Hoàng Xuân Đ, Bùi Thanh B mỗi người 01 viên ma túy loại MDMA và Phạm Văn C nửa viên ma túy loại MDMA để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b, Đối với 02 người trở lên”
Như vậy, hành vi cung cấp trái phép chất ma túy cho nhiều người sử dụng nêu trên của bị cáo đã phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, thành phố H truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng trên là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước. Do đó cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo với mức án nghiêm khắc, bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội ra đầu thú và có bố vợ là ông Phạm Hữu Đ thương binh loại A, thương tật hạng 4/4, được tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với mảnh viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,07 gam, là loại MDMA, Cơ quan giám định đã phân tích hết, không hoàn lại vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với việc sử dụng ma túy Cần sa, Ketamine, Amphetamine tại phòng hát 503 quán Karaoke Star, thị trấn Cát Bà và việc Nguyễn Thị Thanh T tử vong do ngộ độc cấp chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy Ketamine. Quá trình điều tra không xác định được nguồn gốc ma túy các đối tượng sử dụng. Chất ma túy tìm thấy trong máu Tuyền không trùng khớp với chất ma túy thu giữ do T cung cấp. Quá trình điều tra không chứng minh được ai là người cung cấp chất ma túy cho Tuyền hay Tuyền tự chuẩn bị ma túy để sử dụng, vì vậy chưa có căn cứ để khởi tố vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán Karaoke Star cũng như khởi tố vụ án liên quan đến việc Nguyễn Thị Thanh T tử vong do ngộ độc cấp chất ma túy, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vũ Trọng T, Phạm Thị N (bạn gái T) hiện không có mặt tại địa phương. Hà, Mạnh, Kiên là bạn của T ở nội thành Hải Phòng và tỉnh Phú Thọ do hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Vũ Tiến C, Hoàng Xuân Đ, Nguyễn Phương K, Bùi Thanh B đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với Phạm Văn C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, tuy nhiên trọng lượng ma túy dưới 0,1 gam, Chuyên chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Hoàng Văn K lái xe ô tô 29 chỗ BKS 15B - 03.356; Lê Minh T quản lý quán Karaoke Star và những nhân viên quán phục vụ không biết và không tham gia cung cấp và giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Trọng T 08 (tám) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 15 tháng 8 năm 2022.
Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Trọng T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Công an TP Hải Phòng (PV 06, PC10); - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - Cơ quan THAHS Công an huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã X, huyện C; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hưng |