vanban.org

Bản án 22/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện A Lưới, TP. Huế Tuyên án 20/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 10 tháng tù; tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế mà bị cáo V đang thi hành; buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành chung 30 + 10 = 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A LƯỚI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2022/HS-ST
Ngày 20/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A LƯỚI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hương

Bà Lê Thị Mai Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thái - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối V bị cáo:

Nguyễn Văn V; sinh ngày14/11/2004; tại xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn TH, xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hoá: 3/12; Tôn giáo: không; Dân tộc: Pa Cô; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nh sinh năm 1983 và bà Trần Thị X, sinh năm 1984; đều trú tại: Thôn TH, xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên huế; Chưa có vợ, con; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; theo danh, chỉ bản và lý lịch bị cáo không có tiền án, tiền sự; nhân thân bị cáo: có 5 lần trộm cắp tài sản của người khác vào đêm 25/10/2021, đêm 26/10/2021, ngày 07/11/2021, ngày 09/11/2021 và ngày 27/4/2022 đã bị xử lý hình sự tại Bản án phúc thẩm số 97/2022/HS-PT ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phạt 18 tháng tù, và Bản án sơ thẩm số Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện A Lưới 12 tháng tù, Tổng hợp chung phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo đang thi hành án theo Quyết định thi hành án phạt tù số 27/2022/QĐ-CA ngày 03/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện A Lưới từ ngày 10/6/2022; (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo:

Bà Trần Thị X, sinh năm 1984 (mẹ bị cáo) và ông Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1983 (cha bị cáo); nơi cư trú: Thôn TH, xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Cao Thị Thương - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế; (có mặt).

- Bị hại:

+ Anh Lê Th, sinh năm 1988 và chị Đặng Thị Phương L, sinh năm 1989; cư trú tại tổ dân phố A, thị trấn AL, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; (có mặt).

+ Trung tâm Viễn Thông A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; Người đại diện hợp pháp ông Nguyễn Hữu Ngh -Giám đốc Trung tâm; (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Văn H sinh ngày 09/10/2007; nơi cư trú: Thôn TH, xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; (vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Văn R, sinh năm 1986 (cha của Lê Văn H) và bà Hồ Thị L sinh năm 1990 (mẹ của Lê Văn H); nơi cư trú: Thôn TH, xã HB, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế; (vắng mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn H:

Ông Nguyễn Văn Chiết – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế;(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 10/6/2022, Nguyễn Văn V và Lê Văn H sinh ngày 09/10/2007, đi bộ trên đường Đinh Núp, V nhặt được chiếc chìa khóa xe có chử DROLL và 99999 ở giữa đường thì cất giữ. Khi đến trước quán ăn của anh Lê Th ở tổ dân phố A, thị trấn AL, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế thấy chiếc xe mô tô Sirius, loại Yamaha màu đỏ - đen, số kiểm soát 75E1-115.56 của vợ chồng anh Th đang đậu ở vỉa hè thì V nảy sinh ý định trộm cắp. V nói với Lê Văn H đến cách chỗ đậu xe mô tô khoảng 40m để cảnh giới, còn V thực hiện hành vi trộm cắp. Lúc này khoảng 9 giờ 45 phút, V đến tiếp cận xe mô tô, dùng chìa khóa mở công tắc điện khởi động xe, đưa xuống đường và vẫy tay ra hiệu cho Lê Văn H đến. V chở H rời khỏi hiện trường, chạy về hướng xã QN. Anh Th phát hiện xe bị mất trộm đã báo cáo sự việc với Công an, thì đến khoảng 11 giờ 45 phút Công an huyện A Lưới đã triệu tập V và H đến làm việc và thu giữ xe mô tô.

Quá trình điều tra mở rộng, Nguyễn Văn V và Lê Văn H đã khai thêm, khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/5/2022, trên đường đi chơi Game về đến trước Trung tâm viễn thông A Lưới thuộc tổ dân phố 5, thị trấn A Lưới, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, V và H lấy trộm 02 tủ cáp bằng sắt của Trung tâm Viễn thông A Lưới. Trong khi đang thực hiện hành vi thì bị ông Nguyễn Hữu Ngh - Giám đốc phát hiện, V và H vứt lại tài sản rồi bỏ chạy. Ông Ngh báo cáo vụ việc với Công an.

Tại cơ quan Điều tra Công an huyện A Lưới, V và H công nhận hành vi chiếm đoạt tài sản 02 vụ nói trên.

Vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A Lưới, đã thu giữ: 01 xe mô tô Sirius hiệu Yamaha, màu đỏ - đen, số kiểm soát 75E1-115.56, số máy 5C6H – 059996 số khung HOEY - 059976; 02 tủ cáp bằng sắt đã bị rét rỉ; 01 chìa khóa xe có chữ DROLL và 99999 đã sử dụng.

Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện A Lưới có Bản kết luận số 20/KL-HĐĐGTS ngày 10/6/2022 xác định giá trị xe mô tô có giá 5.000.000đ và Bản kết luận số 23/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2022 xác định giá trị 02 tủ cáp bằng sắt 1.050.000đ.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện A Lưới trả lại xe mô tô Sirius, loại Yamaha màu đỏ - đen, số kiểm soát 75E1-115.56, số khung HOEY – 059976 số máy 5C6H – 059996 cho vợ chồng anh Lê Th; trả lại 02 tủ cáp bằng sắt cho Trung tâm Viễn thông A Lưới.

Về trách nhiệm dân sự:

Vợ chồng anh Lê Th và Trung tâm Viễn thông A Lưới đã nhận lại tài sản do bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường thêm.

Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-AL ngày 10/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; không truy tố Lê Văn H vì chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. V bị truy tố về hành vi trộm cắp ngày 10/6/2022, không truy tố hành vi trộm cắp 02 tủ cáp làm bằng sắt có giá trị dưới 2.000.000đ, vì V chưa có tiền án, tiền sự nên không phạm tội mà xử phạt hành chính. Bị cáo V không phạm tình tiết tăng nặng; được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định ở điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn V khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 38; 56; 90; 91; 101 và Điều 104 Bộ luật Hình sự phạt từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện A Lưới; buộc chấp hành hình phạt chung từ 39 tháng đến 42 tháng tù; thời gian tính từ ngày 10/6/2022. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với Nguyễn Văn V.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01chìa khóa xe có chử DROLL và 99999 đã sử dụng của Nguyễn Văn V.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại đầy đủ không ai yêu cầu gì thì không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát truy tố, nhưng còn đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo V là con em dân tộc ít người, nhận thức pháp luật có hạn chế, gia đình khó khăn, thiếu sự chăm sóc của cha mẹ; đề nghị mức án Nguyễn Văn V 09 tháng tù.

Đại diện hợp pháp của bị cáo V đồng ý tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; nhưng đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.

Bị hại không có ý kiến gì về yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn H không có ý kiến gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Văn V xin được giảm nhẹ hình phạt sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế trong quá trình, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc xác minh, thu thập vật chứng đúng trình tự, khách quan; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn H và đại diện hợp pháp của Lê Văn H vắng mặt nhưng lời khai ở hồ sơ rõ ràng, đầy đủ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng có mặt.

Về hành vi phạm tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 9 giờ 45 phút, V đã dùng chìa khóa có chữ DROLL và 99999 mở công tắc điện lén lút chiếm đoạt xe mô tô Sirius hiệu Yamaha, màu đỏ - đen số kiểm soát 75E1-115.56, số máy 5C6H – 059996 số khung HOEY - 059976 của vợ chồng anh Lê Th chở theo Lê Văn H chạy trốn về hướng xã QN, nhưng đến khoảng 11 giờ 45 phút Công an huyện A Lưới đã phát hiện bắt giữ.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 21/5/2022, Nguyễn Văn V và Lê Văn H đã lén lút chiếm đoạt 02 tủ cáp bằng sắt của Trung tâm Viễn thông A Lưới tại tổ dân phố 5, thị trấn A Lưới, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong khi đang thực hiện hành vi thì bị ông Nguyễn Hữu Ngh - Giám đốc phát hiện.

Tài sản trong 02 lần Nguyễn Văn V và Lê Văn H lén lút chiếm đoạt giá 6.050.000đ, nhưng chỉ có 01 lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Nguyễn Văn V phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Mặc dù khi chưa đủ 18 tuổi, nhưng trước khi thực hiện hành vi phạm tội thì Nguyễn Văn V đã bị truy tố về tội trộm cắp ở vụ án khác, chứng tỏ V không chịu học hành tu dưỡng, thường xuyên sống lêu lõng, tìm cách lén lút chiếm tài sản người khác để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, nên vi phạm pháp luật hình sự, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội trong địa phương.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo V không không phạm tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” ở điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là con em dân tộc ít người ít được học hành, nhận thức pháp có hạn chế, nhưng có nhân thân xấu.

Từ nhận định và căn cứ nêu trên, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, cần được chấp nhận. Cần thiết phải xử phạt tù cách ly bị cáo V ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn. Nhưng tại thời điểm phạm tội bị cáo V chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội gây ra tại các Điều 90; 91; 98; 101 và Điều 104 Bộ luật hình sự.

Không thể chấp nhận đề nghị của người bào chữa là gia đình khó khăn mà trộm cắp, hoặc là V thiếu giáo dục của cha mẹ, vì theo cha mẹ của V thì gia đình khuyên can nhưng V ăn chơi lêu lổng, không tiếp thu, không giúp đỡ công việc gia đình.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo V và Lê Văn H cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, H không phạm tội nhưng H phải có trách nhiệm bồi thường, cùng với V. Tuy vậy tài sản được trả lại bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự cần tịch thu tiêu hủy 01chìa khóa xe có chữ DROLL và 99999 đã sử dụng của Nguyễn Văn V.

Về án phí: Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38; 56; 90; 91; 98; 101 và 104 Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 10 tháng tù; tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số 19/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế mà bị cáo V đang thi hành; buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành chung 30 + 10 = 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 10/6/2022.

3. Về dân sự: Các bị hại không có yêu cầu bồi thường, bồi hoàn nên không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy 01chìa khóa xe có chữ DROLL và 99999 đã sử dụng của Nguyễn Văn V hiện đang lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án Dân sự.

5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. (hai trăm ngàn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo vụ án trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn H và đại diện hợp pháp của Lê Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận bản sao bản án.

Cỡ chữ