- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Từ Hòa H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Xử phạt: Bị cáo Từ Hòa H 06 (Sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 69 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2018/HS-ST Ngày 05/4/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Phạm Thùy My
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Sương
Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Từ Hòa H - sinh ngày 27/02/2000; tại: Ninh Hòa, Khánh Hòa; Nơi cư trú: thôn H, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Từ Hòa C, sinh năm 1971 và bà: Phan Thị X, sinh năm 1975; gia đình có năm anh em, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2018 đến ngày 09/01/2018 thay đổi biện pháp ngăn chăn cho gia đình bảo lãnh; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Ông Từ Hòa T, sinh năm: 1992
Trú tại: thôn H, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa;
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Nguyễn Trung P, sinh năm 1979
Trú tại: thôn H, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Đức T, sinh năm 2001
Trú tại: thôn P, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa;
Có mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 2001
Trú tại: thôn T, xã T, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa;
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài, Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 07/4/2017 Từ Hòa H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và sau đó đi bộ đến nhà ông Từ Hòa T ở thôn H, xã T để trộm cắp, H đi phía sau nhà thấy không có cửa nên lén vào trong lấy trộm điện thoại Samsung Galaxy J5 đem về sử dụng.
Với động cơ và mục đích như trên, khoảng 00 giờ ngày 17/4/2017 Từ Hòa H rủ Trần Đức T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý rồi cả hai lên nhà ông Lê Thái S ở thôn H, xã T, tx. Ninh Hòa. T đứng ngoài cảnh giới còn H trèo tường vào bên trong đi tới chỗ cửa sổ đang mở, H dùng nhành cây khều lấy được một điện thoại Samsung Galaxy J3 Prime và số tiền 200.000 đồng của anh Nguyễn Trung P (là con rể của ông S) để trên bàn gần cửa. Sau đó, H và T tiêu xài hết số tiền 200.000 đồng còn điện thoại H giữ lại để sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 22/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Ninh Hòa thì điện thoại Samsung Galaxy J5 trị giá 2.760.000 đồng và điện thoại Samsung Galaxy J3 Prime trị giá 2.945.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 01 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Từ Hòa H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138; Điểm g Khoản 1 Điều 48; Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 69, Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo Từ Hòa H, xử phạt bị cáo từ 06 – 09 tháng tù.
Về vật chứng: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J3 Prime màu vàng đồng và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J5 màu vàng đồng đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Từ Hòa T, ông Nguyễn Trung P vắng mặt nên đề nghị tách ra thành vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục: Tại phiên tòa, việc vắng mặt của người bị hại, người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Từ Hòa H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với cáo trạng của viện kiểm sát, người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 07/4/2017 Từ Hòa H đi bộ đến nhà ông Từ Hòa T ở thôn H, xã T để trộm cắp. Từ phía sau nhà của ông T, thấy không có cửa nên lén vào trong lấy trộm điện thoại Samsung Galaxy J5 rồi đem về sử dụng.
Với động cơ và mục đích như trên, khoảng 00 giờ ngày 17/4/2017 Từ Hòa H rủ Trần Đức T đi trộm cắp tài sản, T đồng ý rồi cả hai lên nhà ông Lê Thái S ở thôn H, xã T, tx. Ninh Hòa. T đứng ngoài cảnh giới còn H trèo tường vào bên trong đi tới chỗ cửa sổ đang mở, H dùng nhành cây khều lấy được một điện thoại Samsung Galaxy J3 Prime và số tiền 200.000 đồng của anh Nguyễn Trung P (là con rể ông S) để trên bàn gần cửa. Sau đó, H và T tiêu xài hết số tiền 200.000 đồng còn điện thoại H giữ lại để sử dụng.
Hành vi của bị cáo Từ Hòa H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Do đó, cáo trạng số 11/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây tác động xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bất ổn trong đời sống quần chúng nhân dân; chỉ vì lười lao động, tham lam, tư lợi, thích hưởng thụ bằng tài sản, công sức của người khác; không chịu học hành để có nghề nghiệp ổn định, làm ăn lương thiện để có nguồn thu nhập hợp pháp mà lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản, bất chấp đạo đức xã hội, coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt bị cáo Từ Hòa H mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung tội phạm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với tổng giá trị là 5.705.000 đồng do vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, xét thấy trong giai đoạn điều tra cũng như thẩm vấn công khai tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản trộm cắp đã trả lại cho chủ sở hữu; tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, sớm trở về với gia đình.
Về vật chứng: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J3 Prime màu vàng đồng và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J5 màu vàng đồng đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Từ Hòa T, ông Nguyễn Trung P vắng mặt nên tách ra thành vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo Từ Hòa H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 138; Điểm p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điểm g Khoản 1 Điều 48 (Phạm tội nhiều lần), Điều 69, Điều 74 của Bộ luật hình sự năm 1999;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a, Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Từ Hòa H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Xử phạt: Bị cáo Từ Hòa H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (trừ các ngày tạm giữ từ ngày 03/01/2018 đến ngày 09/01/2018).
Về trách nhiệm dân sự: Tách yêu cầu bồi thường thiệt hại thành vụ kiện dân sự khác khi những người bị hại có đơn yêu cầu.
Về án phí: Bị cáo Từ Hòa H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tx. Ninh Hòa; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ninh Hòa; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Ninh Hòa; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Ninh Hòa; - Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Án văn, Hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thùy My |