vanban.org

Bản án 22/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Bằng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2018/HS-ST
Ngày: 31-01-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Kim Triều

Ông Trần Quang Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2017/TLST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Thanh B; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1987 tại Cần Thơ; Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã L, huyện Đ, thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị Kim H; Chưa có vợ và con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 16 tháng 10 năm 2017. (Có mặt)

Bị hại: Ông Dương Chí T, sinh năm 1982; Cư trú tại đường L, phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 45 phút ngày 15 tháng 3 năm 2017, Lê Thanh B đi bộ đến trước Nhà hàng A đường Đ, phường T, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì thấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo E7 màu đen, đang phát nhạc để trên yên xe máy cạnh ông Dương Chí T đang nằm ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lê Thanh B dùng tay phải lấy trộm được chiếc điện thoại di động rồi bỏ chạy. Ông T thức giấc phát hiện mất chiếc điện thoại nên chạy bộ đuổi theo và tri hô, đến trước nhà đường T thì cùng với người dân bắt giữ được B giao Công an Phường T, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Oppo E7 hiện chưa thu hồi được; Cơ quan công an thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Huawei; 01 USB lưu trữ dữ liệu điện tử là hình ảnh hành vi trộm cắp của Lê Thanh B.

Kết luận định giá số 080/KLĐGTS ngày 17 tháng 6 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận 01 điện thoại di động hiệu Oppo E7 có giá 2.963.000 đồng.

Bản cáo trạng số 10/CTr-VKS ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lê Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 xử phạt Lê Thanh B mức án từ 04 đến 07 tháng tù; Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; Về xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi và của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh B khai nhận lợi dụng sơ hở của bị hại không trông coi tài sản, đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo E7 có giá 2.963.000 đồng, đã chạy đi được một đoạn thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn chiếm đoạt tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên vẫn cố tình phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Như vậy quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan công an thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Huawei, xét thấy vật chứng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ dữ liệu điện tử là hình ảnh hành vi trộm cắp của bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Lê Thanh B 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 10 năm 2017.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, trả lại cho bị cáo Lê Thanh B 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu đen, số imei 1: 863547034518122, số imei 2: 863547034549283 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án theo Phiếu nhập kho vật chứng số 147/17/PNK ngày 23 tháng 3 năm 2017 của Công an Quận 1; Tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ dữ liệu điện tử là hình ảnh hành vi trộm cắp của bị cáo Lê Thanh B theo Biên bản thu hồi tang vật ngày 15 tháng 3 năm 2017 của Công an phường T, Quận 1.

Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lê Thanh B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ