- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 22/2017/HSST Ngày 22/12/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP -TỈNH ĐIỆN BIÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thùng Văn Liên;
- Bà Bùi Thu Hằng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ L số: 15/2017/TLST- HS ngày 17/11/2017 đối với bị cáo:
Vàng A L S năm: 1977; Nơi S: Huyện SH - Lai Châu;
Trú tại: Bản N 4 xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: Không; Bố đẻ: Vàng A D (đã chết); Mẹ đẻ: Phàng Thị C (đã chết); Vợ: Lờ Thị S S năm: 1980; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất S năm 2000, con nhỏ nhất S năm 2006; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;
Tiền án - Tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2017 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Vàng A S năm: 1977
Trú tại: Bản HT 3 xã N - NP - Điện Biên (Vắng mặt);
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Vàng A P S năm 1998 - trú tại bản HT 3 xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
* Người làm chứng:
1/ Phàng A C - Trú tại Bản N 4 xã N, huyện NP;
2/ Phàng A G - Trú tại Bản N 4 xã N, huyện NP;
3/ Phàng A L – Trú tại Bản N 4 xã N, huyện NP;
4/ Phàng A S – Trú tại bản P xã H - SH - Lai Châu
Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng (Không có L do).
NHẬN THẤY
Bị cáo Vàng A L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện NP truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Ngày 29/7/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP nhận được đơn trình báo của anh Vàng A S sinh năm 1977, trú tại bản HT 3 xã N, huyện Nậm về việc ngày 27/7/2017 anh S có mượn chiếc xe máy HONDA WAVE-RSX biển kiểm soát 27L1 -012.86 của con trai là Vàng A P đi ra bãi thả trâu thuộc bản N 4 xã N để xem trâu của gia đình. Vàng A S dựng xe máy cạnh đường rồi đi tìm trâu. Đến ngày 28/7/2017 Vàng A S quay lại nơi để xe thì phát hiện chiếc xe máy bị mất, S đã đi tìm nhưng không thấy nên đã đến trình báo cơ quan Công an. Quá trình điều tra, xác minh đã có đủ cơ sở để xác định Vàng A L sinh năm 1977 – Trú tại bản N 4 là người thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy của anh Vàng A S.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Vàng A L đã khai nhận như sau:
Vào ngày 27/7/2017 Vàng A L một mình đi xem trâu tại khu vực biên giới thuộc bản N 4 xã N, huyện NP. Khoảng 13 giờ cùng ngày 27/7/2017 trên đường đi xem trâu Vàng A L nhìn thấy khoảng 20 chiếc xe máy dựng cạnh đường không biết của ai. Vì không có xe đi lại nên Vàng A L nảy sinh ý định trộm cắp một chiếc xe để sử dụng đi lại cho bản thân. Vàng A L đến gần một chiếc xe HONDA WAVE-RSX biển kiểm soát 27L1 -012.86 màu đen –đỏ dựng ở phía ngoài gần đường đi, sau khi quan sát xung quanh không có ai, L lại gần và dắt xe ra đường, do không có chìa khóa nên L ngồi lên xe dùng chân đẩy cho xe trôi dốc. Vàng A L dắt chiếc xe máy trộm cắp về gần đến nhà L, cách khoảng 02km thì cất giấu xe vào cạnh đường rồi đi về nhà tìm cách mở khóa chiếc xe máy. Khoảng 7 giờ ngày 28/7/2017 Vàng A L mang theo 01 chìa khóa xe máy cũ đến chỗ cất giấu chiếc xe máy mở khóa và khởi động xe, sau đó điều khiển xe đi lên huyện SH, tỉnh Lai Châu. Khoảng 19 giờ cùng ngày 28/7/2017 Vàng A L điều khiển xe máy đến nhà Phàng A S sinh năm 1994 ở bản P, xã H –SH - Lai Châu, Vàng A L ngủ qua đêm ở đó. Khoảng 7 giờ ngày 30/7/2017 Phàng A S điều khiển xe máy chở Vàng A L đi xin việc ở mỏ đá thuộc xã H – SH -Lai Châu. Sau khi xin được việc Phàng A S điều khiển xe máy về để ở nhà. Đến ngày 07/8/2017 Vàng A S và Phàng A C đến nhà Phàng A S lấy xe máy về. Vàng A L sau khi biết được hành vi trộm xe máy bị phát giác, Vàng A L đi xe khách để quay về bản N 4 xã N, huyện NP và tự nguyện bồi thường số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) tiền công tìm kiếm và sửa xe cho Vàng A S.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện NP, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE-RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 27L1 -012.86, số khung 4324BY110361, số máy JC43E6024941 có trị giá: 7.650.000đ (Bảy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 80/QĐ-VKS-HS ngày 17/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố Vàng A L về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138/BLHS.
Tại phiên tòa người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ nguyên quyết định truy tố tại phiên tòa đối với bị cáo Vàng A L về tội: Trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 138 và điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 và Điều 60/BLHS, xử phạt bị cáo Vàng A L mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cho bị cáo; Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY
Tại phiên toà bị cáo Vàng A L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Khoảng 13 giờ ngày 27/7/2017 Vàng A L đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE-RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 27L1 -012.86, trị giá 7.650.000đ (Bảy triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của người bị hại Vàng A S. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Vàng A L đã có hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138/BLHS.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng việc để xe máy ở dọc đường, không có người trông coi để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây thiệt hại về tài sản cho gia đình người bị hại và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Sau khi bị phát hiện bị cáo và gia đình bị cáo đã kịp thời khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho người bị hại. Bị cáo L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác sẽ bị xử L theo pháp luật nhưng vì muốn có xe máy để phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung trong nhân dân.
Xét nhân thân: Bị cáo Vàng A L sinh ra trong gia đình nông dân, không được đi học. HĐXX thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Tại giai đoạn điều tra bị cáo đã kịp thời khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b, h, p khoản 1 Điều 46/BLHS. Với những tình tiết nêu trên, bị cáo Vàng A L có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 60/BLHS.
Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 138/BLHS, xét thấy bị cáo Vàng A L có hoàn cảnh gia đình khó khăn không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE-RSX màu đỏ - đen biển kiểm soát 27L1 -012.86 do bị cáo trộm cắp. Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu chiếc xe máy là anh Vàng A P, con trai bị hại Vàng A S nên cơ quan điều tra Công an huyện NP đã ra quyết định xử L vật chứng và trao trả cho anh Vàng A P vào ngày 20/9/2017 nên HĐXX không cần xem xét xử lý.
Trách nhiệm dân sự: HĐXX xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền công tìm kiếm và tiền sửa xe máy do bị cáo L trộm cắp của Vàng A S là 1.800.000đ vào ngày 10/9/2017. Tại phiên tòa người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không cần xem xét phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Vàng A L.
Về án phí: Bị cáo Vàng A L được miễn án phí Hình sự sơ thẩm do thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Vàng A L phạm tội: Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 Điều 46 và khoản 1, 2 Điều 60/BLHS:
Xử phạt bị cáo Vàng A L 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 227/BLTTHS tuyên trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vàng A L (Nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác).
Tuyên giao bị cáo Vàng A L cho UBND xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2/Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, Bị cáo Vàng A L được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và THA Tòa án tỉnh; - VKSND huyện NP; - CQĐT Công an huyện NP; - THAHS huyện NP; - Bị cáo; - UBND xã N; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |