- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Tô Thị B xin ly hôn anh Kim Văn Nh"
- Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị B và anh Kim Văn Nh.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2020/HNGĐ-ST Ngày: 11 – 8 – 2020 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Năm
2. Ông Nguyễn Việt Thắng
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Xô, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 461/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2020 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tô Thị B, sinh năm: 1988 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C N, xã Ph T, huyện Ph T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Kim Văn Nh, sinh năm: 1983 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp 7, xã K B Đ, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 17/6/2020 của chị Tô Thị B; lời trình bày trong biên bản hòa giải ngày 28/7/2020 của chị B và anh Kim Văn Nh, các đương sự thống nhất trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Chị Tô Thị B và anh Kim Văn Nh chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2016, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, chị B và anh Nh cho rằng vợ, chồng luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế anh, chị không còn chung sống vợ, chồng từ tháng 01/2020 đến nay.
Từ nội dung trên, chị B và anh Nh nhận thấy tình cảm của anh, chị không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên anh, chị đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh, chị được chấm dứt quan hệ vợ, chồng.
- Về con chung: Chị B và anh Nh xác định giữa anh, chị có 01 người con chung là Tô Ngọc N (Kim Ngọc M), sinh ngày 20/01/2017, hiện cháu N đang sống chung với chị B. Khi ly hôn, anh Nh và chị B thống nhất giao con chung cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị B và anh Nh xác định giữa anh, chị không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Chị B và anh Nh khai nhận giữa anh, chị không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa chị Tô Thị B và anh Kim Văn Nh là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với việc vắng mặt đương sự: Xét thấy anh Kim Văn Nh có yêu cầu xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Nh theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, chị Tô Thị B và anh Kim Văn Nh có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 2016 đến 2018. Theo chị B và anh Nh xác định, giữa anh, chị không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của chị B và anh Nh đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay chị B và anh Nh có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, anh chị luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, chị B và anh Nh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh, chị không còn nên anh, chị đã tự ly thân nhiều tháng qua.
Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét mâu thuẫn thực tế của anh, chị đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.
Về con chung: Cháu Tô Ngọc N (Kim Ngọc M), sinh ngày 20/01/2017, hiện đang sống chung với chị B. Khi ly hôn, anh Nh và chị B thống nhất giao con chung cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận của anh Nh và chị B trên tinh thần tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị B và anh Nh xác định giữa anh, chị không có tài sản chung nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị B và anh Nh khai nhận giữa anh, chị không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị B là nguyên đơn nên chị phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị B và anh Nh được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị B và anh Kim Văn Nh.
2 - Về con chung: Giao cháu Tô Ngọc N (Kim Ngọc M), sinh ngày 20/01/2017 cho chị Tô Thị B tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Nh được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người trực tiếp nuôi con.
3 - Về tài sản chung: Chị B và anh Nh xác định giữa anh, chị không có tài sản chung nên không đặt ra xem xét.
4 - Về nợ chung: Chị B và anh Nh khai nhận giữa anh, chị không có nợ chung và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị B phải chịu 300.000đ, ngày 19 tháng 6 năm 2020, chị B đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời theo biên lai số: 3888 được đối trừ chuyển thu.
6 - Về quyền kháng cáo: Chị B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - CCTHADS huyện Trần Văn Thời; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Minh Hải |