- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang H, Trần Gia M, Thạch Văn T1, Đinh Tuấn G - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang H và Trần Gia M (bị cáo M thêm khoản 2 Điều 51);
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 216/2024/HSST Ngày 26/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Viết Tuấn
2. Ông Nguyễn Quang Hiển
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Thu Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 222/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 với các bị cáo:
1. Nguyễn Quang H, sinh năm 1997 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn 4, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Quang L; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thu H1; Bị cáo có vợ là Vũ Vân T, sinh năm 2001, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/6/2024. Hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
2. Trần Gia M, sinh năm 2000 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn 7, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn 9, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Trần Văn M1 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
3. Thạch Văn T1, sinh năm 1991 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện G, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Thạch Văn T2 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991; Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
4. Đinh Tuấn G, sinh năm 1983 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện G, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Ngô Tuấn S; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M2; Bị cáo có vợ là Đào Ánh N, sinh năm 1988 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: 01 tiền án - Bản án số 147/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt Đinh Tuấn G 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy - chấp hành xong hình phạt 02/5/2023 (Chưa được xóa án tích); Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 22/6/2024. Hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Bá T3, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện G, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Anh Lưu Văn D1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 45 phút ngày 21/6/2024, Tổ công tác Công an xã X phối hợp cùng Công an xã Q, huyện G làm nhiệm vụ tại khu vực thôn H, xã Q, huyện G, Hà Nội phát hiện Nguyễn Quang H điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đỏ đeo BKS 29N1-717.09 phía sau chở Trần Gia M có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, phát hiện trong ốp điện thoại của M có 01 túi ni lông màu trắng trong chứa tinh thể màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng; trong túi quần phía trước bên phải của M đang mặc có 01 chiếc tất vải màu đen bên trong có chứa 01 coóng bằng thủy tinh bị đốt đen đã qua sử dụng, 02 nắp chai bằng nhựa (01 nắp màu xanh, 01 nắp màu đỏ) bị đục lỗ đã qua sử dụng; 04 ống hút bằng nhựa (03 ống hút màu xanh, 01 ống hút màu hồng). Tại chỗ M và H khai nhận là ma túy “đá” và ma túy “ngựa” của M và H mua của Đinh Tuấn G
- sinh năm: 1983, trú tại: thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội để đến nhà Thạch Văn T1 sử dụng, sau khi sử dụng ma túy tại nhà T1 xong thì M và H mang số ma túy còn lại về để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Gia M, Nguyễn Quang H.
* Vật chứng thu giữ của Trần Gia M:
- 01 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng.
- 01 chiếc tất bằng vải màu đen bên trong có:
+ 01 cóng bằng thủy tinh, bị đốt đen, đã qua sử dụng;
+ 02 nắp chai bằng nhựa màu xanh và đỏ bị đục lỗ, đã qua sử dụng;
+ 04 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu hồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 1 số 0987213377, sim 2 số 0876976699 máy cũ đã qua sử dụng.
* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Quang H:
- 01 chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đỏ BKS 29N1-71709 xe có số máy JA39E-0690584, số khung RLHJA3906HY710457 xe cũ đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7Plus màu vàng bên trong lắp sim liên lạc số 0383924897, máy cũ đã qua sử dụng.
* Vật chứng thu giữ của Thạch Văn T1:
- 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 72 màu đen đã qua sử dụng, lắp sim số 0969254089, Imei1: 865543052550632, Imei2: 865543052550624
Tại bản Kết luận giám định số 4839/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP. Hà Nội, kết luận: 01 túi nilông bên trong có: Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,130 gam; 02 mảnh viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,040 gam; 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.
Ngày 22/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Tuấn G tại thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội, kết quả khám xét không thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Gia M, Nguyễn Quang H và Thạch Văn T1 khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, tại nhà Trần Gia M ở thôn 9, xã N, huyện G, Hà Nội, Nguyễn Quang H rủ Trần Gia M đi mua ma túy “đá” và ma túy “ngựa” về để sử dụng, M đồng ý. Cả hai thống nhất M bỏ 400.000 đồng để mua 300.000 đồng ma túy “đá” và 100.000 đồng ma túy “ngựa” của Đinh Tuấn G. H sử dụng điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 plus màu vàng lắp sim 0383924897 gọi cho Thạch Văn T1 hỏi T1 có nhà không để M và H đến sử dụng ma túy, T1 nói có. M đi vào chân giường phòng ngủ lấy 01 chiếc tất vải màu đen bên trong đựng 01 cóng bằng thủy tinh bị đốt đen đã qua sử dụng; 02 nắp chai bằng nhựa màu xanh và đỏ bị đục lỗ; 04 ống hút bằng nhựa màu xanh và hồng cất vào túi quần bên phải M đang mặc. Sau đó, H điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Wave, màu đỏ, BKS: 29N1-717.09 chở M đi mua ma túy của Đinh Tuấn G. Trên đường đi, M sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A12 màu xanh lắp sim số 0876976699 gọi điện cho Đinh Tuấn G số 0973237483 (M lưu tên là “G”) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá” và 100.000 đồng ma túy “ngựa”. G đồng ý và hẹn đi đến khu vực cuối đường D, xã X, huyện G, Hà Nội để lấy ma túy. G bảo M chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 110213061983 Ngân hàng M của G. M sử dụng tài khoản số 2006888888 Ngân hàng M mang tên Trần Gia M chuyển 400.000 đồng đến số tài khoản 110213061983 Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G. Sau đó, H chở M đến khu vực đường D, xã X, huyện G, Hà Nội thì thấy G đang đứng ven đường. H điều khiển xe đến gần chỗ G cách khoảng 10m để M xuống xe đứng chờ còn H điều khiển xe quay lại gần chỗ G (cách khoảng 1m) thì G thả 01 gói giấy ăn màu trắng bên trong có 01 túi nilông màu trắng có chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng (là ma túy “đá” và ma túy “ngựa”) xuống đường và bảo H lấy, sau đó G bỏ đi. Sau khi mua được ma túy, H cầm ở tay trái, điều khiển xe máy đi đến chỗ M đang đứng và đưa số ma túy vừa mua được cho M. M cất gói ma túy vào trong ốp điện thoại của M để H điều khiển xe máy chở M đến nhà Thạch Văn T1 ở thôn H, xã Q, huyện G, Hà Nội và đi lên tầng 2 ngồi trên giường. M lấy túi ni lông chứa ma túy cất giấu trong ốp điện thoại cùng 01 chiếc tất vải màu đen bên trong có chứa coóng thủy tinh, nắp chai nhựa đã được đục lỗ và ống hút ra để ở chiếu. Sau đó, H lấy một ít ma túy “đá”; bẻ viên ma túy “ngựa” thành 3 mảnh và dùng 01 mảnh cho vào một đầu coóng thủy tinh, đầu coóng thủy tinh không chứa ma túy được nối với đoạn ống hút nhựa cắm vào một lỗ nhỏ trên nắp chai. Khi đó, nắp chai đã được xoáy chặt vào một chai nhựa (loại chai nước ngọt), bên trong có chứa nước lọc, lỗ nhỏ còn lại trên nắp chai được cắm ống hút nhựa. H và T1 dùng bật lửa đốt nóng đầu coóng thủy tinh có chứa ma túy đến khi bên trong chai nước xuất hiện khói trắng thì M, H, T1 dùng miệng ngậm vào đầu ống hút cắm trên nắp chai và hút khói ma túy vào trong cơ thể. Sau khi sử dụng xong, đến khoảng 13 giờ 15 phút thì M cất túi ni lông chứa ma túy “đá” và “ngựa” còn lại chưa sử dụng hết vào ốp điện thoại của M, lấy coóng thủy tinh, nắp chai nhựa, ống hút nhựa để vào chiếc tất vải màu đen, cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc và cùng H đi về. Khi M và H đang trên đường về nhà thì Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ các vật chứng như đã nêu trên.
Ngoài ra, M và H còn khai nhận trước đó đã 03 lần cùng nhau mua ma tuý “đá” và ma tuý “ngựa” của Đinh Tuấn G để sử dụng. Cụ thể những lần mua ma tuý này như sau:
- Hành vi thứ nhất: chiều ngày 11/6/2024, H sử dụng số điện thoại 0383924897 gọi điện, nhắn tin đến số điện thoại 0973237483 của G hỏi mua 400.000 đồng ma tuý “đá”, 100.000 đồng ma tuý “ngựa”, G đồng ý và bảo chuyển tiền vào tài khoản 110213061983 Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G và hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội. H nói với M chuyển khoản số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản G. Sau khi M chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của G, H điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đỏ đeo BKS 29N1-717.09 chở M đi đến khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G thì G sử dụng điện thoại Samsung A24 màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0973237483 gọi vào số điện thoại 0383924897 của H chỉ vị trí lấy 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi ni lông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa” ở chân cột điện trên đường D. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe máy chở M về nhà M và cùng nhau sử dụng hết.
- Hành vi thứ hai: chiều ngày 17/6/2024, H sử dụng số điện thoại 0383924897 gọi đến số điện thoại 0973237483 của G hỏi mua 400.000 đồng ma tuý “đá”, 100.000 đồng ma tuý “ngựa”, G đồng ý và bảo chuyển tiền vào tài khoản 110213061983 Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G, hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội. H nói với M để M chuyển khoản số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 110213061983 Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G. Sau khi M chuyển số tiền 500.000 đồng vào tài khoản của G, H điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đỏ đeo BKS 29N1-717.09 chở M đi đến khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G thì G sử dụng điện thoại Samsung A24 màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0973237483 gọi vào số điện thoại 0383924897 của H chỉ vị trí cất giấu ma tuý tại khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội (vị trí đã lấy ma tuý mua của G ngày 11/6/2024). H dừng xe còn M xuống nhặt ma tuý là 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe máy chở M về nhà M và cùng nhau sử dụng hết.
- Hành vi thứ ba: Trưa ngày 20/6/2024, M sử dụng số điện thoại 0876976699 gọi đến số điện thoại 0973237483 của G hỏi mua 400.000 đồng ma tuý "đá”, 100.000 đồng ma tuý “ngựa”. G đồng ý và bảo chuyển tiền vào tài khoản 110213061983 Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G, hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội thì M chuyển khoản số tiền 500.000 đồng đến số tài khoản 110213061983 Ngân hàng M của G. Sau đó, H điều khiển xe máy chở M đến khu vực đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội. Khi ra đến nơi, G đã đứng đợi sẵn ở khu vực chỗ cột điện. M xuống xe đứng đợi còn H điều khiển xe máy đi khoảng 10m đến chỗ G thì G thả 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá" và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa” xuống dưới đường khu vực cột điện, H đã nhặt ma tuý sau đó chở M về nhà Thạch Văn T1. Tại tầng 2 nhà T1 thì M, H, T1 đã cùng nhau sử dụng hết số ma tuý mua được.
Lời khai của các bị cáo Trần Gia M, Nguyễn Quang H và Thạch Văn T1 phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Tuấn G không thừa nhận việc bán ma tuý cho Trần Gia M và Nguyễn Quang H vào các ngày 11/6/2024, 17/6/2024, 20/6/2024 và 21/6/2024 nhưng căn cứ lời khai của các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H phù hợp với nhau, kết quả kiểm tra điện thoại, lịch sử liên lạc, lịch sử giao dịch chuyển khoản. Do đó, đủ cơ sở để kết luận Đinh Tuấn G đã bán ma tuý cho Trần Gia M, Nguyễn Quang H nhiều lần. Tuy nhiên, trong 04 lần giao dịch mua bán ma túy thì ngày 11/6/2024 và ngày 17/6/2024, H và M không gặp G mà chỉ nhận ma túy tại chân cột điện trên đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội; ngày 20/6/2024 và ngày 21/6/2024 thì chỉ có một mình H trực tiếp đến mua ma túy đá và ma túy ngựa của G, mặt khác G không thừa nhận hành vi bán ma túy nên không có cơ sở kết luận Đinh Tuấn G bán ma túy cho nhiều người.
Trước đó vào khoảng 22 giờ ngày 20/6/2024 tại thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội, Tổ công tác Công an xã X xác minh nguồn tin của quần chúng nhân dân phản ánh Phạm Bá T3 - sinh năm: 1996, trú tại: Thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành đến nhà kiểm tra. Quá trình kiểm tra T3 khai nhận mua ma túy “đá” của Đinh Tuấn G - sinh năm: 1983 ở thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội để sử dụng. Kết quả xét nghiệm T3 dương tính với loại ma túy Methamphetamine (MET). Tổ công tác tiến hành lập biên bản và mời T3 về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ của Phạm Bá T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, bên trong gắn 2 thẻ sim số 0967766211 (sim 1) và số 0378159301 (sim 2), máy cũ đã qua sử dụng.
Tại cơ quan Công an, Phạm Bá T3 khai nhận: T3 đã mua ma túy của Đinh Tuấn G từ đầu tháng 6/2024 khoảng 3 lần. Lần gần nhất vào ngày 16/6/2024, T3 sử dụng điện thoại di động lắp sim số 0967766211 gọi điện đến số điện thoại của G là 0973237483 để hỏi mua 300.000 đồng ma túy “đá” và 100.000 đồng cóong thủy tinh, G đồng ý và yêu cầu T3 chuyển khoản số tiền 400.000 đồng đến số tài khoản 110213061983 tại Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G. T3 sử dụng số tài khoản 0967766211 tại Ngân hàng M của T3 chuyển khoản số tiền 400.000 đồng cho G. Sau đó, T3 đến khu vực chùa thôn T, xã Q, huyện G để gặp G. Tại đây G đã chỉ cho T3 vị trí giấu ma túy trên bờ tường sau đó bỏ đi. T3 đã lấy được 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilong màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” và 01 cóong thủy tinh. T3 mang về nhà sử dụng một mình hết. Ngoài ra, T3 còn khai đã mua ma túy đá của G 2 lần mỗi lần 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng bên trong chứa 01 túi ni lông màu trắng chứa ma túy với giá từ 300.000 đồng - 400.000 đồng nhưng không nhớ ngày, giao dịch bằng hình thức đưa tiền mặt trực tiếp, T3 đều sử dụng hết.
Tuy nhiên, bị cáo Đinh Tuấn G không thừa nhận bán ma túy cho T3, ngoài lời khai của T3, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ kết luận Đinh Tuấn G bán ma túy cho Phạm Bá T3.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/6/2024, Công an xã X phối hợp cùng Công an xã Q tổ chức lực lượng tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã X, xã Q. Khi tổ công tác đi đến khu vực cổng chùa thôn T, xã Q phát hiện Lưu Văn D1 - sinh năm: 1999, trú tại: Xóm, D, xã N, huyện P, Thái Nguyên và Đinh Tuấn G - sinh năm: 1983, trú tại: thôn T, xã Q có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tại chỗ, Lưu Văn D1 khai nhận đã sử dụng điện thoại di động số 0325412822 gọi cho Đinh Tuấn G tức “G” để hỏi mua ma túy để sử dụng nhưng chưa kịp thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng.
* Vật chứng thu giữ của Đinh Tuấn G:
- 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream, màu trắng đen BKS 29N1-49193, số máy C100ME-8139359, số khung C100M-8139359, máy cũ đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A24 màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0973237483, máy cũ đã qua sử dụng.
* Vật chứng thu giữ của Lưu Văn D1:
- 400.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0325412822, máy cũ đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đinh Tuấn G và Lưu Văn D1 cùng khai nhận: Đinh Tuấn G bắt đầu bán ma túy trước khi bị Công an bắt khoảng 10 ngày, loại ma túy mà Đinh Tuấn G bán là ma túy “đá” và ma túy “ngựa”. Sáng ngày 21/6/2024, Đinh Tuấn G đến khu vực thành phố T, Bắc Ninh mua của một người đàn ông không rõ nhân thân 800.000 đồng tiền ma túy “đá” và 02 viên ma túy “ngựa” với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy G mang về nhà sử dụng một nửa ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa”. Chiều ngày 21/6/2024, Lưu Văn D1 sử dụng số điện thoại 0325412822 gọi điện hỏi mua của G mua 500.000 tiền ma túy (gồm 400.000 đồng ma túy “đá” và 1 viên ma túy “ngựa” với giá 100.000 đồng/viên), G đồng ý và hẹn gặp tại khu vực đường Q, huyện G, Hà Nội. Sau đó, G cầm 01 túi ni lông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” để bán cho D1. G cất túi ni lông chứa ma túy trên bờ tường trong ngõ. Một lúc sau, D1 đến đường Q, huyện G gặp và đưa cho G số tiền 500.000 đồng trả tiền mua ma tuý. G cầm tiền và chỉ vị trí để ma tuý bán cho D1 tại khu vực trên bờ tường trong ngách và đi về trước. D1 ra chỗ bờ tường lấy được 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilông màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa”. D1 mang về nhà một mình sử dụng hết. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày 21/6/2024, Đinh Tuấn G đang ở nhà tại thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội thì Lưu Văn D1 sử dụng số điện thoại 0325412822 gọi đến số điện thoại 0973237483 của Đinh Tuấn G hỏi mua 400.000 đồng ma túy “đá” và 100.000 đồng ma túy “ngựa”. Đinh Tuấn G đồng ý bán ma túy cho D1 và nhắn tin gửi số tài khoản 110213061983, Ngân hàng M mang tên Đinh Tuấn G để D1 chuyển khoản tiền mua ma túy cho G. D1 nhắn tin cho G để D1 vào hàng quán nào đó nhờ chuyển khoản, G nhắn cho D1 là G không nhận tiền mặt và bảo D1 ra chỗ ngã 3 thôn T, xã D, huyện G có quán tạp hóa. Chờ lâu không thấy D1 chuyển tiền nên Đinh Tuấn G điều khiển xe máy kiểu dáng Honda Dream, màu trắng đen BKS 29N1-49193 ra khu vực cổng chùa thôn T, xã Q để gặp D1. Tại đây, D1 đưa cho G 400.000 đồng tiền mặt để mua ma túy nhưng G không nhận. Sau đó, G điều khiển xe máy chở D1 do D1 muốn đi nhờ một đoạn thì bị Cơ quan Công an đến kiểm tra, lập biên bản và đưa về trụ sở làm việc.
Ngoài ra Lưu Văn D1 còn khai nhận trước đó đã nhiều lần mua ma tuý của G để sử dụng, cụ thể các hành vi như sau:
- Lần thứ nhất: Tối ngày 18/6/2024, D1 gọi điện hỏi mua của G 300.000 đồng ma tuý “đá” và 100.000 đồng ma tuý “ngựa”. Sau đó, D1 gặp G tại khu vực cổng chùa thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội. Tại đây, D1 đưa G số tiền 400.000 đồng và nhận lại từ G 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, D1 mang về nhà sử dụng một mình hết.
- Lần thứ hai: Trưa ngày 19/6/2024, D1 gọi điện hỏi mua của G 300.000 đồng ma tuý “đá” và 100.000 đồng ma tuý “ngựa”. Sau đó, D1 gặp và đưa G số tiền 400.000 đồng để trả tiền mua ma tuý tại khu vực cổng chùa thôn T, xã Q, huyện G, Hà Nội. G bảo D1 đi ra khu vực đầu đường Q rồi chỉ cho D1 vị trí G để ma tuý là tại khu vực trên bờ tường. D1 đi đến chỗ bờ tường G chỉ và lấy được 01 túi nilông màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, D1 mang về nhà sử dụng một mình hết.
- Lần thứ ba: Trưa ngày 20/6/2024, D1 gọi điện hỏi mua của G 300.000 đồng ma tuý “đá” và 100.000 đồng ma tuý “ngựa”. Sau đó, D1 gặp và đưa G số tiền 400.000 đồng để trả tiền mua ma tuý tại khu vực đường Q, huyện G, Hà Nội và nhận lại từ G đưa 01 gói giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa 01 túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” và 01 viên nén màu hồng là ma tuý “ngựa”. Sau khi mua được ma túy, D1 mang về nhà sử dụng một mình hết.
Tuy nhiên, bị cáo Đinh Tuấn G khẳng định không bán ma túy cho D1 vào các ngày 18,19 và ngày 20/6/2024, ngoài lời khai của D1 thì không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có căn cứ xác định Đinh Tuấn G bán ma túy cho Lưu Văn D1 các ngày 18, 19 và 20/6/2024 như D1 đã khai.
Đối với Lưu Văn D1 hỏi mua ma túy của bị cáo Đinh Tuấn G tối ngày 21/6/2024 nhưng chưa mua được ma túy, qua xét nghiệm, D1 dương tính với chất ma tuý nên Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Lưu Văn D1 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.
Đối với Phạm Bá T3 khi bị Công an kiểm tra dương tính với ma túy, Công an xã X đã ban giao cho Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6 Hà Nội để lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện nay, T3 đang cai nghiện ma tuý bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 6 Hà Nội, thời gian 18 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 41/2024/QĐ-TA ngày 12/7/2024 của TAND huyện G.
Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Đinh Tuấn G, do không rõ nhân thân nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện G không có căn cứ xử lý.
Đối với 01 chiếc xe máy kiểu dáng Honda Wave màu đỏ đeo BKS 29N1-717.09, số máy JA39E-0690584, số khung RLHJA3906HY710457 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H. Quá trình điều tra, xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Vũ Văn T4 - sinh năm 1980, trú tại: thôn 4, xã N, huyện G, Hà Nội (là bố vợ của H). Ngày 21/6/2024, anh T4 không biết H mượn xe để sử dụng xe đi mua ma túy nên ngày 25/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trao trả chiếc xe máy trên cho anh Vũ Văn T4.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh cũ đã qua sử dụng được ốp bằng ốp điện thoại màu đen, lắp sim liên lạc sim 1: 0987213377; sim 2: 0876976699 thu giữ của bị can Trần Gia M; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu vàng cũ đã qua sử dụng, lắp sim liên lạc số 0383924897 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang H; 01 chiếc điện thoại di động OPPO Reno 7Z cũ đã qua sử dụng lắp sim liên lạc số 0969254089 thu giữ của bị cáo Thạch Văn T1; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 5S màu trắng lắp sim liên lạc số 0325412822 thu giữ của Lưu Văn D1 và 01 chiếc điện thoại di động Samsung A24 màu đen lắp sim liên lạc số 0973237483 thu giữ của bị cáo Đinh Tuấn G có liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã thu giữ, nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung A03 màu đen lắp sim liên lạc: sim 1: 0967766211, sim 2: 0378159301 thu giữ của Phạm Bá T3; mặc dù T3 khai có sử dụng điện thoại di động trên để liên lạc mua ma túy của Đinh Tuấn G, tuy nhiên việc mua bán ma túy giữa T3 và G không có căn cứ chứng minh. Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã thu giữ, nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 950.000 đồng thu giữ của bị cáo Đinh Tuấn G và 400.000 đồng thu giữ của Lưu Văn D1 không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã chuyển vào tài khoản tại Kho bạc nhà nước G để quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy kiểu dáng Honda Dream đeo BKS 29N1-491.93 cũ đã qua sử dụng, bị vỡ một bên đèn xi nhan bên trái, xe có số máy C100ME-8139359, số khung C100M-8139359 tạm giữ của bị cáo Đinh Tuấn G. Qua xác minh chủ xe là Đinh Tuấn G khai: không sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán ma tuý, Cơ quan CSĐT - Công an huyện G đã thu giữ, nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 217/CT-VKSGL ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Nguyễn Quang H và bị cáo Trần Gia M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Thạch Văn T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và Truy tố bị cáo Đinh Tuấn G truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Nguyễn Quang H và Trần Gia M khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Thạch Văn T1 khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Đinh Tuấn G ngoài việc khai nhận hành vi bán ma túy cho Lưu Văn D1 như đã khai tại cơ quan điều tra còn thừa nhận đã có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cho Trần Gia M, Nguyễn Quang H như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố. Xác định là vụ án đồng phạm, bị cáo Nguyễn Quang H có vai trò khởi xướng, cùng các bị cáo Trần Gia M, Thạch Văn T1 thực hành tích cực thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang H và Trần Gia M;
- Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thạch Văn T1;
- Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Tuấn G.
Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H và bị cáo Trần Gia M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Thạch Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tuyên bố bị cáo Đinh Tuấn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Đề nghị xử phạt Nguyễn Quang H: từ 7 năm 9 tháng đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải chấp hành chung hình phạt từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Đề nghị xử phạt Trần Gia M: từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Trần Gia M phải chấp hành chung hình phạt từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
- Đề nghị xử phạt Thạch Văn T1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.
- Đề nghị xử phạt Đinh Tuấn G từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.
* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng; 01 chiếc tất bằng vải màu đen bên trong có; 01 coóng bằng thủy tinh, bị đốt đen, đã qua sử dụng; 02 nắp chai bằng nhựa màu xanh và đỏ bị đục lỗ, đã qua sử dụng; 04 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu hồng.
- Đề nghị cho Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 1 số 0987213377, sim 2 số 0876976699 máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trần Gia M.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7Plus màu vàng bên trong lắp sim liên lạc số 0383924897, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Quang H.
+ 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 72 màu đen đã qua sử dụng, lắp sim số 0969254089, Imei1: 865543052550632, Imei2: 865543052550624 thu giữ của Thạch Văn T1.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0325412822, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Lưu Văn D1.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A24 màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0973237483, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Tuấn G.
- Đề nghị trả cho bị cáo Đinh Tuấn G: 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream, màu trắng đen BKS 29N1-49193, số máy C100ME-8139359, số khung C100M-8139359, máy cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Phạm Bá T3: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, bên trong gắn 2 thẻ sim số 0967766211 (sim 1) và số 0378159301 (sim 2), máy cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Lưu Văn D1 số tiền 400.000 đồng;
- Buộc bị cáo Đinh Tuấn G phải nộp số tiền 1.900.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H các ngày 11,17,20,21/6/2024 và 500.000 đồng bán ma túy cho Lưu Văn D1. Do đó, tịch thu số tiền 950.000 đồng của bị cáo Đinh Tuấn G, bị cáo tiếp tục phải nộp số tiền 1.450.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Trong phần Tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định:
Trưa ngày 20/6/2024, tại đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội, các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H đã có hành vi mua 400.000 đồng ma túy “đá” và 100.000 đồng ma túy “ngựa” của bị cáo Đinh Tuấn G để Thạch Văn T1 sử dụng nhà T1 ở thôn H, xã Q, huyện G, Hà Nội cho H, M và T1 cùng sử dụng ma túy.
Khoảng 11 giờ ngày 21/6/2024, tại đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội, các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H đã có hành vi mua 400.000 đồng ma túy Methamphetamine của bị cáo Đinh Tuấn G để Thạch Văn T1 sử dụng nhà T1 ở thôn H, xã Q, huyện G, Hà Nội cho H, M và T1 cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, còn 0,17 gam ma túy Methamphetamine, H và M mang về nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Ngoài ra, trong các ngày 11/6/2024 và 17/6/2024 tại đường D, thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội, bị cáo Đinh Tuấn G đã thực hiện 02 lần bán trái phép 02 túi ni lông màu trắng chứa ma tuý “đá” và 02 viên ma tuý “ngựa” màu hồng cho các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H với tổng số tiền là 1.000.000 đồng.
Chiều ngày 21/6/2024, tại đường D, xã Q, huyện G, Hà Nội, bị cáo Đinh Tuấn G đã có hành vi bán trái phép ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” cho Lưu Văn D1 với số tiền là 500.000 đồng.
Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Quang H và bị cáo Trần Gia M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Hành vi của bị cáo Thạch Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo Đinh Tuấn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự .
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của các bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng.
Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo Nguyễn Quang H có vai trò khởi xướng, cùng các bị cáo Trần Gia M, Thạch Văn T1 thực hành tích cực nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Quang H cao hơn đối với mức hình phạt bị cáo M và bị cáo T1 như vậy mới tương xứng với vai trò của từng bị cáo trong vụ án.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trần Gia M có ông ngoại là Nguyễn Bá N1 được tặng thưởng Huân chương vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, gia đình bị cáo rất khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương). Bị cáo Thạch Văn T1 có bố là Thạch Văn T2 được tặng thưởng Huân chương hạng ba; Bị cáo Đinh Tuấn G có ông nội và bác ruột được tặng thưởng Huân chương hạng ba và hạng nhì, gia đình bị cáo rất khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên cho các Đinh Tuấn G, Thạch Văn T1 và Trần Gia M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng; 01 chiếc tất bằng vải màu đen bên trong có: 01 cóng bằng thủy tinh, bị đốt đen, đã qua sử dụng; 02 nắp chai bằng nhựa màu xanh và đỏ bị đục lỗ, đã qua sử dụng; 04 ống hút bằng nhựa màu xanh và màu hồng, xác định là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh bên trong có gắn thẻ sim 1 số 0987213377, sim 2 số 0876976699 máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Trần Gia M; 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7Plus màu vàng bên trong lắp sim liên lạc số 0383924897, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Quang H; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 72 màu đen đã qua sử dụng, lắp sim số 0969254089, Imei1: 865543052550632, Imei2: 865543052550624 thu giữ của Thạch Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5s màu trắng, bên trong có gắn thẻ sim số 0325412822, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Lưu Văn D1; 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A24 màu đen, bên trong lắp sim liên lạc số 0973237483, máy cũ đã qua sử dụng, thu giữ của Đinh Tuấn G. Xác định liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 màu đen, bên trong gắn 2 thẻ sim số 0967766211 (sim 1) và số 0378159301 (sim 2), máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Bá T3, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả cho anh T3.
- Đối với số tiền 400.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả cho Lưu Văn D1.
- Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream, màu trắng đen BKS 29N1-49193, số máy C100ME-8139359, số khung C100M-8139359, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Đinh Tuấn G, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả cho bị cáo G.
- Buộc bị cáo Đinh Tuấn G phải nộp số tiền 1.900.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho các bị cáo Trần Gia M và Nguyễn Quang H các ngày 11,17,20,21/6/2024 và 500.000 đồng bán ma túy cho Lưu Văn D1. Do đó, tịch thu số tiền 950.000 đồng của bị cáo Đinh Tuấn G tiếp tục phải nộp số tiền 1.450.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Về án phí:
- Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 55; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Quang H và Trần Gia M (bị cáo M thêm khoản 2 Điều 51);
- Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thạch Văn T1.
- Điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Tuấn G.
- Điều 47; Điều 55 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1]. Về hình phạt:
[1.1]. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải chấp hành hình phạt chung của 02 tôi là 08 (Tám) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
[1.2]. Xử phạt bị cáo Trần Gia M 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Gia M phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
[1.3]. Xử phạt bị cáo Thạch Văn T1 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.
[1.4]. Xử phạt bị cáo Đinh Tuấn G 07 (Bẩy) năm 09 (Chín) tháng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024.
[2]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
[3]. Về xử lý vật chứng:
[3.1]. Cho tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) Phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Trần Gia M, giám định viên Trương Trọng V, cán bộ Công an xã X Nguyễn Bảo T5 và hình dấu của Công an xã X. Bên trong phong bì niêm phong có 01(một) túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,130 gam (Phòng PC09- CATP HN trích mẫu giám định 0,040 gam Methamphetamine) tổng khối lượng còn lại là: 0,090 gam Methamphetamine. 02(hai) mảnh viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,040 gam (Phòng PC09- CATP HN trích mẫu giám định 0,010 gam Methamphetamine) tổng khối lượng còn lại là: 0,030 gam Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 4839/KL-KTHS ngày 01/7/2024 và các biên bản niêm phong của Cơ quan công an).
- 01 (Một) Phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của Trần Gia M, giám định viờ Trương Trọng V, cán bộ Công an xã X Nguyễn Bảo T5 và hình dấu của Công an xã X. Bên trong phong bì niêm phong có 01(một) cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 4839/KL-KTHS ngày 01/7/2024 và các biên bản niêm phong của Cơ quan công an).
- 01(Một) chiếc tất bằng vải màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Trần Gia M (theo Biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024).
- 02 (Hai) nắp chai bằng nhựa màu xanh và đỏ bị đục lỗ, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Gia M (theo Biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024).
- 04 (Bốn) ống hút bằng ngựa màu xanh và hồng (03 ống hút màu xanh và 01 ống hút màu hồng) đã qua sử dụng thu giữ của Trần Gia M (theo Biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024).
[3.2]. Cho tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (Một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 thu giữ của Trần Gia M, được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu xanh, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 02 sim điện thoại cũ và 01 ốp điện thoại màu đen).
- 01 (Một) Điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 PLUS thu giữ của Nguyễn Quang H, được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại kiểu dáng Iphone 7 PLUS màu vàng, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 01 sim điện thoại cũ).
- 01 (Một) Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 7Z thu giữ của Thạch Văn T1, được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại nhãn hiệu OPPO Reno 7Z màu đen, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 01 sim điện thoại cũ).
- 01 (Một) Điện thoại di động kiểu dáng Samsung A24 thu giữ của Đinh Tuấn G, được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại kiểu dáng Samsung A24 màu đen, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 01 sim điện thoại cũ).
- 01 (Một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S thu giữ của người liên quan Lưu Văn D1 (sinh năm 1999, HKTT: Xóm D, xã N, huyện P, Thái Nguyên), được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 01 sim điện thoại cũ).
[3.3]. Trả tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội:
- Trả anh Phạm Bá T3 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 thu giữ của người liên quan Phạm Bá T3 (sinh năm 1996, HKTT: thôn T, xã X, huyện G, Hà Nội), được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 21/6/2024 ghi là: Điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy 403 màu đen, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ, không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng. (kèm 02 sim điện thoại cũ).
- Trả cho bị cáo Đinh Tuấn G: 01 (Một) Xe máy kiểu dáng Honda Dream đã cũ màu trắng đen, bị vỡ một bên đèn xi nhan bên trái. Có Số máy C100ME-8139359 - Số khung C100M-813959 - BKS 29N1–491.93.
(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, thành phố Hà Nội ngày 18 tháng 11 năm 2024).
- Trả anh Lưu Văn D1 số tiền 400.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0004065 ngày 14/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, thành phố Hà Nội.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 950.000 đồng của bị cáo Đinh Tuấn G theo Biên lai thu tiền số 0004065 ngày 14/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, thành phố Hà Nội. Bị cáo Đinh Tuấn G còn phải nộp số tiền 1.450.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
[4]. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện G; - Công an huyện G; - Thi hành án dân sự H.G; - Sở tư pháp Hà Nội; - Những người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội; - Nhà tạm giữ Công an huyện G; TP Hà Nội; - Lưu: HS; THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |