vanban.org

Bản án 214/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo Nguyễn Phư c T. Giữ nguyên phần quyết định c a bản án h nh sự sơ th về phần h nh phạt đối v i ị cáo Nguyễn Phư c T.

Chấp nhận ột phần kháng cáo c a ị cáo Phạ Ánh N. S a phần quyết định c a bản án h nh sự sơ th về phần h nh phạt đối v i ị cáo Phạ Ánh N. Tuyên ố: Các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N cùng phạ tội “Buôn án hàng cấ ”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Phước T và đồng phạm, phạm tội buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo Nguyễn Phư c T. Giữ nguyên phần quyết định c a bản án h nh sự sơ th về phần h nh phạt đối v i ị cáo Nguyễn Phư c T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 58 Bộ luật H nh sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2023/HS-PT
Ngày: 17-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

V i thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th phán - Ch toạ phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Ca c Th phán: Ông Phạ Minh Tùng

Bà Nguyễn Thị Võ Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa a n nhân d n t nh Đ ng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Ch u - Ki sát viên.

Ngày 17 tháng 8 nă 2023, tại Tr s Tòa a n nh n d n t nh Đ ng Tháp m phiên tòa công khai t

phúc th v án h nh sự th l số: 35/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 02 nă 2023 đối v i ị cáo Nguyễn Phư c T và đ ng phạm. Do c kháng cáo c a các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạ Ánh N đối v i ản án h nh sự sơ th số: 65/2022/HS-ST ngày 29 tháng 12 nă 2022 c a Tòa án nh n d n thành phố H ng Ngự.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Phư c T, sinh ngày 10/10/1982, tại t nh Đ ng Tháp; Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp; chỗ hiện nay: Khóm B, phường A, thành phố H, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh nă 1962 và à Nguyễn Thị L, sinh nă 1961; có vợ tên Phạm Ánh N, sinh ngày 02/5/1985; có 01 con, sinh nă 2006; tiền sự: Không, tiền án: Nă 2015, ị Tòa án nh n d n thị ã H ng Ngự (nay là thành phố H) tuyên 07 nă tù gia về tội “Mua án trái ph p chất a túy” và đã chấp hành ong h nh phạt tù nă 2020; tạm giữ: Ngày 11/8/2022, tạm giam: Ngày 16/8/2022. Hiện đang ị tạm giam tại Trại tạ gia Công an t nh Đ.

2. Họ và tên: Phạ Ánh N, sinh ngày 02/5/1985, t nh Đ ng Tháp; Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện H, t nh Đ ng Tháp; chỗ hiện nay: Khóm B, phường A, thành phố H, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạ Văn K, nă sinh không rõ và bà Lưu Thị T2, nă sinh không rõ; c ch ng tên Nguyễn Phư c T, sinh ngày 10/10/1982; có 01 con, sinh nă 2006; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang ị áp d ng biện pháp ngăn chặn Cấ đi khỏi nơi cư trú.

Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị.

NỘI DUNG V ÁN:

Th o các tài iệu có trong h s vụ án và di n i n t i phi n tòa n i dung vụ án ược tóm t t như sau: Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 8 nă 2022 Công an phường A, thành phố H tuần tra, ki soát nhằ đả ảo an ninh trật tự và phòng, chống tội phạ trên địa àn phường. Trong lúc tuần tra đã tiến hành ki tra hành chính căn nhà thuộc kh B, phường A, thành phố H. Tại thời đi ki tra c ặt c a các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạ Ánh N, anh Mai H ng N1 trong căn nhà và địa ch nêu trên. Qua ki tra phát hiện trong nhà đang cất giấu 3.150 ao thuốc lá điếu nhập lậu nên tiến hành lập iên ản ắt người phạ tội quả tang. Vật chứng v án Cơ quan điều tra đã thu giữ: 1.500 ao thuốc lá hiệu JET; 1.500 ao thuốc lá hiệu HERO và 150 ao thuốc lá hiệu SCOTT. Ngoài ra còn thu giữ c a Nguyễn Phư c T: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia àu đen đã qua s d ng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu S àu đen, phía sau ốp lưng àu n u, màn h nh c vết nứt đã qua s d ng; 01 (Một) e ô tô ang i n ki soát 66G1-680.67; thu giữ c a Phạ Ánh N: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO àu anh đen, đã qua s d ng; thu giữ c a Mai H ng N1: 01 (Một) e ô tô ang i n ki soát 66V1-798.68 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO màu đen đã qua s d ng. Quá trình điều tra, các ị cáo T, N đều khai nhận căn nhà trên do ị cáo T thuê c a người đàn ông tên T3 ( C), c đích thuê đ . Số lượng 3.150 ao thuốc lá điếu nhập lậu ị ắt quả tang, thu giữ là c a vợ ch ng ị cáo T. Do uốn nhanh c tiền tiêu ài, ị cáo T nảy sinh định uôn án thuốc lá điếu nhập lậu nên àn ạc v i vợ là ị cáo Phạ Ánh N s d ng phương tiện e ô tô lên iên gi i Việt Na - Ca puchia ua thuốc lá điếu ngoại c a người thanh niên tên T4 (không rõ địa ch , Ca puchia) v i số lượng 2.250 ao, và ua c a chị Nguyễn Thị Tuyết N2 (e ruột c a ị cáo T) 900 ao. M c đích đ án lại kiế lời th ị ki tra, phát hiện ắt quả tang. Tại ản án h nh sự sơ th m số: 65/2022/HS-ST ngày 29 tháng 12 nă 2022 c a Tòa a n nhân dân thành phố H ng Ngự đã quyết định:

Căn cứ đi m e khoản 2 Điều 190, đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đi m h khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 c a Bộ luật H nh sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phư c T phạm tội “Buôn án hàng cấ ”.

X phạt bị cáo Nguyễn Phư c T 05 (nă ) nă 03 ( a) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 11/8/2022).

Căn cứ đi m e khoản 2 Điều 190, đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 c a Bộ luật H nh sự.

Tuyên ố ị cáo Phạ Ánh N phạ tội “Buôn án hàng cấ ”.

X phạt bị cáo Phạm Ánh N 05 (nă ) nă tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành h nh phạt tù.

Ngoài ra, án sơ th m còn tuyên về l vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 30 tháng 12 nă 2022, ị cáo Nguyễn Phư c T c đơn kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ h nh phạt.

Ngày 05 tháng 01 nă 2023, ị cáo Phạ Ánh N c đơn kháng cáo v i nội dung xin giảm nhẹ h nh phạt và in được hư ng án treo.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát bi u quan đi m cho rằng cấp sơ th đã xét các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N v i tội danh, điều khoản c a tội danh nêu trên là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Sau khi xét x sơ th m, bị cáo Nguyễn Phư c T có đơn kháng cáo v i nội dung in giả nhẹ h nh phạt nhưng không cung cấp t nh tiết nào i ngoài các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự à án sơ th đã áp d ng cho ị cáo; ị cáo Phạ Ánh N c đơn kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và in được hư ng án treo c cung cấp t nh tiết i là xác nhận c a chính quyền địa phương ị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình đ nuôi cha mẹ già, con nhỏ; gia đ nh ị cáo c công v i Cách ạng, ác ruột c a ị cáo là liệt sĩ, cô ruột được tặng thư ng, bằng khen, hu n chương kháng chiến; bản thân bị cáo cũng được khen thư ng do có thành tích suất sắc trong việc đ ng g p ng hộ đại dịch Covid-19 địa phương. Đ y là các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự à cấp sơ th chưa e

t cho ị cáo. Tuy nhiên, t ức h nh phạt à cấp sơ th m áp d ng đối v i các bị cáo là phù hợp. Do đ , đề nghị Hội đ ng xét x không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N, giữ nguyên phần Quyết định c a ản án sơ th về hình phạt đối v i bị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N.

Các bị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N không phát i u tranh luận à ch in Hội đ ng xét x xem xét giả nhẹ h nh phạt cho các ị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n c s n i dung vụ án c n c vào các tài iệu trong h s

ược tranh tụng t i phi n tòa H i ng t nh n ịnh như sau: [1] Tại phiên tòa phúc th , các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N đã thừa nhận toàn ộ hành vi phạ tội c a nh. Lời khai nhận tội c a các ị cáo phù hợp v i lời khai c a các ị cáo trong quá tr nh điều tra cũng như tại phiên tòa sơ th m, phù hợp v i biên bản phạm pháp quả tang, phù hợp v i lời khai c a người liên quan cùng các chứng cứ khác trong h sơ v án, đ cơ s đ ác định: Vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 8 nă 2022 Công an phường A, thành phố H đã tiến hành ki tra hành chính căn nhà thuê c a bị cáo T thuộc khóm B, phường A, thành phố H; tại thời đi m ki m tra có mặt c a các bị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N, anh Mai H ng N1 trong căn nhà và địa ch nêu trên. Qua ki m tra phát hiện trong căn nhà thuê c a bị cáo T đang cất giấu tổng số lượng là 3.150 (Ba ngh n ột tră nă ươi) ao thuốc lá điếu nhập lậu nên đã tiến hành lập iên ản ắt người phạm tội quả tang. Các bị cáo T và N đều khẳng định số lượng 3.150 ao thuốc lá điếu nhập lậu ị ắt quả tang, thu giữ là c a vợ ch ng ị cáo ua c a người thanh niên tên T4 (không rõ địa ch , Ca puchia) v i số lượng 2.250 ao và ua c a chị Nguyễn Thị Tuyết N2 (e ruột c a ị cáo T) 900 ao; c đích đ án lại kiế lời.

Hội đ ng t

t thấy, hành vi c a các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N là nguy hi cho ã hội, trực tiếp đã

phạ trật tự quản l kinh tế trong lĩnh vực sản uất, kinh doanh, thương ại c a Nhà nư c ta. Các ị cáo là người đã trư ng thành c tinh thần, th chất phát tri n nh thường, có đầy đ năng lực chịu trách nhiệ h nh sự. Các ị cáo phạ tội v i lỗi cố , động cơ c đích phạ tội là đ tư lợi cá nh n. Các ị cáo thừa iết việc uôn án hàng cấ là vi phạ pháp luật nhưng ị cáo vẫn cố t nh thực hiện chứng tỏ hành vi c a các ị cáo là cố và tội phạ đã hoàn thành.

Tòa án cấp sơ th đã xét x các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N về tội “Buôn án hàng cấ ” theo đi e khoản 2 Điều 190 Bộ luật H nh sự là c căn cứ, đúng người, đúng tội. X t ức h nh phạt à án sơ th đã tuyên đối v i ị cáo là hoàn toàn phù hợp v i tính chất, ức độ nguy hi c a hành vi phạ tội do ị cáo g y ra và đã c n nhắc, e

t về nh n th n cũng như các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự đối v i ị cáo. Sau khi t sơ th m, bị cáo Nguyễn Phư c T c đơn kháng cáo v i nội dung in giả nhẹ h nh phạt nhưng không cung cấp t nh tiết nào i ngoài các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự à án sơ th đã áp d ng cho ị cáo. Bị cáo Phạ Ánh N c đơn kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt và in được hư ng án treo c cung cấp t nh tiết i là xác nhận c a chính quyền địa phương ị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh kh khăn, đơn chiếc đang nuôi cha già ị ệnh ti , ẹ ị ệnh tai iến và con đang tuổi đi học; gia đ nh ị cáo c công v i Cách ạng, bác ruột c a bị cáo là liệt sĩ, cô ruột được tặng thư ng bằng khen, hu n chương kháng chiến; bản thân bị cáo cũng được khen thư ng do có thành tích suất sắc trong việc đ ng g p ng hộ đại dịch Covid-19 địa phương. Đ y là các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự à cấp sơ th chưa e

t cho bị cáo. Tuy nhiên, các t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự vừa nêu không phải là điều kiện đ cho bị cáo được hư ng án treo theo luật định. Mặt khác, giữa bị cáo và bị cáo Nguyễn Phư c T là vợ ch ng, bị cáo T r rê ị cáo và ị cáo thực hiện hành vi v i vai trò giúp sức. Trong v án này, ị cáo đã thành kh n khai áo và ăn năn hối cải, cùng v i các t nh tiết giả nhẹ nêu trên, xét thấy cần áp d ng Điều 54 Bộ luật h nh sự đ giảm nhẹ cho bị cáo N ột phần về h nh phạt do ị cáo c 02 t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự khoản 1 và nhiều t nh tiết giả nhẹ trách nhiệ h nh sự khoản 2 Điều 51 Bộ luật h nh sự. Do đ , Hội đ ng t không chấp nhận kháng cáo c a ị cáo Nguyễn Phư c T, giữ nguyên phần Quyết định c a ản án sơ th về h nh phạt đối v i ị cáo Nguyễn Phư c T; chấp nhận ột phần kháng cáo c a ị cáo Phạ Ánh N, s a phần Quyết định c a ản án sơ th về h nh phạt đối v i ị cáo Phạ Ánh N.

X t đề nghị c a vị đại diện Viện ki sát tại phiên tòa đối v i các ị cáo Nguyễn Phư c T là c căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đ ng t chấp nhận. Riêng phần đề nghị đối v i ị cáo Phạ Ánh N là chưa phù hợp như Hội đ ng xét x đã nhận định phần trên nên không chấp nhận.

Do kháng cáo c a các ị cáo Nguyễn Phư c T không được chấp nhận nên ị cáo phải chịu án phí h nh sự phúc th .

Bị cáo Phạ Ánh N không phải chịu án phí h nh sự phúc th theo luật định.

Các phần khác c a quyết định ản án sơ th không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ đi a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố t ng h nh sự.

Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt c a ị cáo Nguyễn Phư c T. Giữ nguyên phần quyết định c a bản án h nh sự sơ th về phần h nh phạt đối v i ị cáo Nguyễn Phư c T.

Căn cứ đi

khoản 1 Điều 355 và đi m c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố t ng h nh sự.

Chấp nhận ột phần kháng cáo c a ị cáo Phạ Ánh N. S a phần quyết định c a bản án h nh sự sơ th về phần h nh phạt đối v i ị cáo Phạ Ánh N.

2. Tuyên ố: Các ị cáo Nguyễn Phư c T, Phạm Ánh N cùng phạ tội “Buôn án hàng cấ ”;

Căn cứ đi m e khoản 2 Điều 190; đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đi m h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 c a Bộ luật H nh sự.

X phạt bị cáo Nguyễn Phư c T 05 (nă ) nă 03 ( a) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 11/8/2022).

Căn cứ đi m e khoản 2 Điều 190; đi m s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17 và Điều 58 c a Bộ luật H nh sự.

X phạt ị cáo Phạ Ánh N 04 ( ốn) nă tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành h nh phạt tù.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự.

Bị cáo Nguyễn Phư c T5 chịu 200.000 đ ng án phí h nh sự phúc th .

Bị cáo Phạ Ánh N không phải chịu án phí h nh sự phúc th .

4. Các phần khác c a quyết định bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc th c hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ