- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T sửa bản án sơ thẩm số 22/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 221/2018/HSPT Ngày 12 - 7 - 2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đức.
Các Thẩm phán: 1. Ông Trịnh Văn Toàn.
2. Bà Lê Thị Thanh Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ái Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2018/HSPT ngày 21/5/2018 đối với bị cáo Cao Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án số: 22/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Cao Văn T sinh năm 1984 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Sách; con ông Cao Văn D (đã chết) và bà Đinh Thị B, có vợ là Đinh Thị H (Hiện đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2001; tiền án: Tại bản án số 44/2007/HSST, ngày 19 tháng 9 năm 2007, của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt Cao Văn T 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 04/2008/HSST, ngày 29 tháng 01 năm 2008, của Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, xử phạt Cao Văn T 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong phần án phí; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 12 năm 2017 cho đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Anh Đinh Khắc T1, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 29 tháng 12 năm 2017, Cao Văn T đón xe buýt từ bến xe khách huyện E, tỉnh Đắk Lắk đến chợ thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Khi đến chợ thị trấn E thì T đi bộ vào trong chợ thì thấy có 01 chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, mang biển số 77K1 - 030.10 đang dựng ở đó nhưng không có ai trông coi. Thấy vậy, T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để đi đem bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, T đi lại chỗ dựng xe chiếc xe mô tô và ngồi lên xe mô tô rồi lấy 01 cái vam phá khóa trong túi quần ra để mở ổ khóa điện của xe mô tô. Sau khi mở được khóa điện, T khởi động xe mô tô và quay đầu xe bỏ chạy ra hướng ngoài đường. Khi T điều khiển xe mô tô chạy được khoảng 07 mét thì bị anh Phạm Ngọc T2 phát hiện và chạy tới đạp ngã xe mô tô cùng T xuống đất. Khi đó, anh T1 cùng với một số người dân ở trong chợ chạy đến bắt giữ T và trình báo cơ quan Công an thị trấn E.
Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.
Tại bản kết luận số 05/BB-ĐGTS ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E kết luận giá trị của xe mô tô biển số 77K1- 030.10 của anh Đinh Khắc T1 có giá trị là 9.500.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (Ngày 29 tháng 12 năm 2017)
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/4/2018, bị cáo Cao Văn T kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Cao Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên bị cáo chỉ trình bày hoàn cảnh là bị cáo đang nuôi mẹ già, sau khi ly hôn bị cáo nuôi con và con bị cáo bị bệnh tự kỷ nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Xét mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với hành vi bị cáo gây ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng tất cả các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29/12/2017.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sơm được về nuôi dưởng mẹ già và con bị bệnh.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau;
Lời khai của bị cáo Cao Văn T tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/12/2017, tại khu vực chợ thị trấn E, huyện E Cao Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô hiệu SIRIUS, mang biển số 77K1 - 030.10 của anh Đinh Khắc T1 có giá trị 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm ngàn đồng). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy hình phạt 01 (Một) năm 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bởi lẽ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS; bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc: Sách). Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình làm ăn lương thiện, nuôi mẹ già và con bị bệnh tự kỷ. Do đó, HĐXX xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Văn T sửa bản án sơ thẩm số 22/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.
Áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Trộm căp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2017
[2] Về án phí: Bị cáo Cao Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - Văn phòng CQCSĐT CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Ea H’leo; - VKSND huyện Ea H’leo; - Công an huyện Ea H’leo; - Chi cục THADS huyện E; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Đức |