vanban.org

Bản án 210/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Lê Thanh Hậu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Hậu 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2026. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Lê Thanh Hậu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 210/2026/HS-ST
Ngày 23-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hải

Ông Phan Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Công Chức - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 228/2026/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2026/QĐXX-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh Hậu; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1999; CCCD: 077099003505; Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Tổ 2 khu phố Tây Hoà Long, phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Họ tên cha: Lê Thanh Hùng, đã chết; Họ tên mẹ: Lê Thị Hoa, sinh năm 1971; Bị cáo là con thứ thứ tư trong gia đình có bốn người con; bị cáo chung sống như vợ chồng với Thạch Thị Trinh, sinh năm: 2001, bị cáo có một người con sinh năm 2021. Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 10/11/2023 bị Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Toà án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng. Chấp hành xong ngày 28/11/2024. Ngày 06/12/2024 Uy ban nhân dân xã Hoà Long (nay là Uỷ ban nhân dân phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh) ra Quyết định số 732/QĐ-UBND về việc quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú.

Nhân thân: Ngày 28/04/2017 bị Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Toà án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 năm 6 tháng tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” quy định theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 theo Bản án số 32/2017/HSST. Ngày 07/9/2018, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 16/4/2026 cho đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam số 1, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thuỳ Dương, sinh năm 1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: Số 15 Ngõ 1 đường Thung Lang, tổ 4, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình (hiện đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma tuý số 6)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 10/4/2026, Công an phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra khu vực thuộc Khu phố Tây Hoà Long, phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Lê Thanh Hậu và Nguyễn Thuỳ Dương (sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: số 15, ngõ 1, đường Thung Lang, tổ 4, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình; chô ở: tổ 2, khu phố Tây Hòa Long, phường Tam Long, Tp. Hồ Chí Minh) có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở làm việc. Qua kiểm tra chất ma tuý trong nước tiểu của Hậu và Dương, kết quả Hậu và Dương dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine

Công an phường Tam Long tạm giư của Lê Thanh Hậu 01 điện thoại di động loại Redmi Note 8 Pro màu đen, số thuê bao 0796068970 đồng thời lấy mâu nước tiểu để giám định theo quy định.

Tạm giư của Nguyễn Thùy Dương 01 điện thoại di động loại Iphone 7 Plus màu đen, số máy MN4M2TA/A, số thuê bao 0852200894.

Tại công an phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh, Hậu và Nguyễn Thùy Dương khai nhận như sau:

Hậu và Nguyễn Thuỳ Dương có quan hệ tình cảm với nhau. Dương thường xuyên đến ở nhà Hậu thuộc khu phố Tây Hoà Long, phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 21 giờ ngày 09/4/2026, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Hậu sử dụng điện thoại di động truy cập zalo liên hệ với người đàn ông tên Sơn nhà ở phường Long Hương nhưng không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể hỏi mua ma túy đá (loại Methamphetamine) về sử dụng. Sau khi đồng ý, khoảng 20 phút sau Sơn đến bùng binh Hoà Long, Hậu đưa cho Sơn số tiền 150.000 đồng, Sơn đưa ma tuý cùng nồi để sử dụng ma túy cho Hậu. Nhận được ma túy, Hậu đem về nhà cất trong phòng ngủ. Sau đó, Hậu đi đến ngã tư Suối Nghệ chở Dương về nhà Hậu. Về đến nhà Hậu, Hậu rủ Dương sử dụng ma túy cùng thì Dương đồng ý. Hậu lấy ma tuý bỏ vào trong nồi rồi đốt hút, Hậu hút trước rồi đưa nồi chứa ma tuý cho Dương, Dương hút xong bỏ xuống đất thì Hậu tiếp tục hút, Hậu hút khoảng 03 hơi, Dương hút 03 hơi thì ngưng. Lo sợ gia đình phát hiện nên Hậu đã đập bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma tuý vứt vào thùng rác. Ngoài lần sử dụng ma túy tại phòng của Hậu ngày 09/4/2026 thì Hậu và Dương không sử dụng lần nào khác.

Tại kết luận giám định số 7896/KL- KTHS ngày 17/4/2026 của phòng kỹ thuật hình sự công an Thành phố Hồ Chí Minh:

Mâu cần giám định: Một phong bì được niêm phong, có hình dấu của công an phường Tam Long- Công an Tp. Hồ Chi Minh, cùng các chư ký ghi hộ tên: Hồ Minh Tâm, Trần Nhật Quang, Lê Minh Trung, Lê Thanh Hậu. Bên trong có một lọ chứa chất lỏng màu vàng (ký hiệu mâu chất là A1)

Kết luận: Mâu A1 gửi giám định có chứa thành phần chất ma túy Methamphetamine

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Đối với bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý của Hậu, Dương: Sau khi sử dụng, Hậu đã vứt bỏ. Công an phường Tam Long tiến hành khám xét nhưng không thu giư được.

Đối với 01 điện thoại di động loại Iphone 7 Plus, màu đen, số máy MN4M2TA/A, số điện thoại: 0852200894 tạm giư của Nguyễn Thuỳ Dương, công an phường Tam Long đã trả lại cho Nguyễn Thuỳ Dương

Đối với 01 điện thoại di động loại Redmi Note 8 Pro, màu đen, số điện thoại: 0796068970 tạm giư của Lê Thanh Hậu.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSHCM-KV ngày 23/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thanh Hậu về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, thành phố Hồ Chí Minh vân giư nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh Hậu về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 xử phạt bị cáo Lê Thanh Hậu mức án từ 4 đến 5 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động loại Redmi Note 8 Pro, màu đen, số điện thoại: 0796068970 của Lê Thanh Hậu

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh Hậu đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố và không có ý kiến gì về luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Lê Thanh Hậu nói lời sau cùng xin được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về với gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ, trả điều tra bổ sung. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ ngày 09/4/2026, Lê Thanh Hậu mua ma túy loại Methaphetamine và nồi sử dụng ma túy của người đàn ông tên Sơn (chưa rõ lai lịch) đem về phòng ngủ của mình thuộc khu phố Tây Hoà Long, phường Tam Long, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Tại đây, Hậu đã rủ Nguyễn Thùy Dương sử dụng cùng thì Dương đồng ý. Hậu bỏ ma túy vào nồi rồi đốt hút sau đó đưa cho Dương sử dụng.

Hành vi của bị cáo Hậu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Bản cáo trạng số 68/CT-VKSHCM-KV ngày 23/6/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thanh Hậu là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo

Về tình tiết tăng nặng: Không

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.

Căn cứ vào mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã phân tích ở trên nhận thấy:

Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và quản lý trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là công dân đã trưởng thành và hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe của con người. Tuy nhiên để phục vụ nhu cầu của bản thân và nhưng người khác, bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật để cố ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ án này bị cáo là người trực tiếp chuẩn bị ma tuý, dụng cụ sử dụng mà tuý và đốt ma tuý cho bị cáo và Dương sử dụng. Ngoài ra, bị cáo đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và đang bị quản lý sau cai nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà vân tiếp tục phạm tội. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để nhằm răn đe, giáo dục đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với một điện thoại di động loại Redmi Note 8 Pro, màu đen, số điện thoại: 0796068970 của bị cáo Lê Thanh Hậu được sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thuỳ Dương là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, Dương không có hành vi chỉ huy, phân công, điều hành hoặc chuẩn bị các điều kiện (địa điểm, ma tuý, dụng cụ…) nhằm đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác mà chỉ là đối tượng thụ hưởng. Qua điều tra, xác minh Dương không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 2025 nên không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã được Toà án nhân dân khu vực 12 – Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 131/QĐ-TA ngày 11 tháng 5 năm 2026 là đúng quy định.

Đối với người đàn ông tên Sơn bán ma túy cho Hậu, Công an phường Tam Long tiếp tục xác minh, làm rõ và sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Lê Thanh Hậu phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Hậu 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/4/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với một điện thoại di động loại Redmi Note 8 Pro, màu đen, số điện thoại: 0796068970 của bị cáo Lê Thanh Hậu

Các vật chứng trên hiện đang lưu giư tại Thi hành án dân sự Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 205/BB-THADS(12) ngày 24/6/2026.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uy ban Thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí buộc bị cáo Lê Thanh Hậu phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ