vanban.org

Bản án 21/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Thái Văn H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 13-10-2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Văn H - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2026/HS-ST
Ngày 25-03-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Loan Em.

2. Bà Lê Thị Thúy Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tại - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2026/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Thái Văn H, sinh ngày 21-04-2001 tại Phường N, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: Ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Lao động tự do (làm thuê); trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Thái Hồng S và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 13-10-2025; có mặt.

2. Họ và tên: Trương Văn V, sinh ngày 19-02-1993 tại xã M, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: Ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Lao động tự do (làm thuê); trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn N và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Có 01 tiền sự ngày 03-6-2025, bị Công an xã M xử phạt hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành); bị tạm giam từ ngày 13-10-2025; có mặt.

3. Họ và tên: Bùi Văn K, sinh ngày 19-02-2002 tại xã P, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ: Ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn P và bà Bùi Thị T1; chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 13-10-2025; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 30-7-2025, sau khi nhậu tại ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ, Thái Văn H chở Trương Văn V đi về nhà. Trên đường đi về, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Thái Văn H rủ Trương Văn V hùn tiền lại để mua ma túy đá về sử dụng thì V đồng ý. Sau đó, cả hai thống nhất với nhau mỗi người hùn 150.000 đồng, lúc này Trương Văn V đưa 150.000 đồng cho Thái Văn H giữ. Nhưng do không biết chỗ mua ma túy, nên cả hai thống nhất với nhau đi đến nhà của Bùi Văn K ở ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ, nhờ K dẫn đi mua ma túy. Sau khi thống nhất thì H điều khiển xe mô tô của H chở V đi đến nhà của K. Tại đây, H và V gặp được K, H rủ K đi mua ma túy thì K đồng ý, V ở lại nhà của K đợi. Sau đó cả hai đi đến một con hẻm thuộc phường B, tỉnh Cà Mau, gặp một người nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch cụ thể). Lúc này, H hỏi mua được 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 300.000 đồng. Sau khi nhận được gói ma túy thì H bỏ vào bao thuốc lá, lên xe cho K chở về.

Khi về đến nhà của K là khoảng hơn 11 giờ cùng ngày thì K đi vào nhà lấy ra một cái ca bằng nhựa màu vàng bên trong có chứa bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy. Để tránh bị phát hiện, K kêu H chở K và V đi đến căn nhà bỏ hoang của K cũng thuộc ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ để cả ba sử dụng ma túy. Khi đến nơi, K lấy bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy được làm bằng vỏ chai sting đã qua sử dụng phía trên có nắp đậy, trên nắp được đục 02 (hai) lỗ, 01 (một) lỗ gắn ống hút nhựa, 01 (một) lỗ gắn nỏ bằng thủy tinh từ trong cái ca bằng nhựa do K đem theo trước đó ra. Lúc này, Thái Văn H mới lấy gói thuốc lá chứa ma túy ra đưa cho K, K lấy ma túy đổ hết vào nỏ rồi dùng hột quẹt gas đốt nóng ma túy lên để H, V và K lần lượt sử dụng đến khi hết ma túy. Sau khi sử dụng xong, K lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt xuống sông trước nhà của K rồi cả ba đi về nhà.

Do nghi vấn V, H sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã M, thành phố Cần Thơ tiến hành mời lên làm việc thì V, H thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với K, đồng thời tiến hành test nhanh nước tiểu Thái Văn H và Trương Văn V, kết quả đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên ngày 04-08-2025, Công an xã M đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để tiến hành thụ lý thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành làm việc đối với H, V, K. Tại cơ quan Công an, cả ba thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân (Bút lục số 156-217).5

Tại bản kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 13 tháng 08 năm 2025 của Phòng K1 Công an thành phố C kết luận:

- Mẫu ký hiệu M1 của Thái Văn H: Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine

- Mẫu ký hiệu M2 của Trương Văn V : Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

- Mẫu ký hiệu M3 của Bùi Văn K: Mẫu gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine (Bút lục số 128).

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận; sau khi phân tích hành vi, mức độ phạm tội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.

- Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K thống nhất với nội dung bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Trong phần tranh luận, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V và Bùi Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các lời khai, tường trình của các bị cáo trong quá trình điều tra. Lời khai của các bị cáo còn phù hợp với bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả kiểm tra chất ma túy trong cơ thể các bị cáo, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V và Bùi Văn K đã có hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy, cung cấp dụng cụ, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 30-7-2025.

Hành vi của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự, phải biết rằng ma túy là chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và bạn bè. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Do vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho các bị cáo.

Về vai trò đồng phạm: Trong vụ án này có 03 bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên trước khi thực hiện hành vi phạm tội thì giữa các bị cáo không có bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ, nên các bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó vai trò của từng bị cáo như sau: Bị cáo Thái Văn H là người khởi xướng, rủ rê và thực hành tích cực, còn bị cáo Trương Văn V và Bùi Văn K là người giúp sức và thực hành tích cực.

Về tính chất, mức độ hành vi và hình phạt: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện cho nhiều người sử dụng; tính chất, mức độ rất nghiêm trọng. Do vậy, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo được cải tạo, học tập, sửa chữa sai lầm và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, HĐXX xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau đây của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo Thái Văn H, Bùi Văn K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Trương Văn V có 01 tiền sự bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 03-6-2025 nhưng lại tiếp tục vi phạm lần này ngày 30-7-2025.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Đối với người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Thái Văn H do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý sau.

Đối với địa điểm sử dụng chất ma túy là căn nhà bỏ hoang của gia đình Bùi Văn K thuộc ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ thì địa điểm này do Bùi Văn K và bà Bùi Thị T1 là mẹ ruột của Bùi Văn K trực tiếp quản lý. Tuy nhiên tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy thì Bùi Thị T1 không biết nên không đặt ra xem xét xử lý hình sự đối với bà T1 với vai trò đồng phạm đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Thái Văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Thái Văn H 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 13-10-2025.

2. Xử phạt bị cáo Trương Văn V 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 13-10-2025.

3. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam bị cáo là ngày 13-10-2025.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Thái văn H, Trương Văn V, Bùi Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ