vanban.org

Bản án 21/2025/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn C đối với bị đơn Công ty TNHH bao bì I về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "VỤ LAO ĐỘNG TRƯƠNG VĂN C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn C đối với bị đơn Công ty TNHH bao bì I về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/LĐ-ST
Ngày: 23-9-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo;

2. Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 12/2025/TLST-LĐ ngày 15 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-LĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã Th, Thành phố Cần Thơ; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH bao bì I; địa chỉ trụ sở: Khu phố L, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1980, địa chỉ: Ấp T, xã Th, tỉnh An Giang; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trương Văn C trình bày:

Ông Trương Văn C là em vợ của ông Nguyễn Văn X. Tháng 9/2012, ông X có mượn giấy chứng minh nhân dân của ông C để tham gia ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH bao bì I (sau đây gọi tắt là Công ty I). Trong thời gian thực hiện hợp đồng thì Công ty I đã tham gia bảo hiểm xã hội cho ông X với thông tin cá nhân của ông Trương Văn C từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 với mã số BHXH: 7412059201.

Năm 2008, ông Trương Văn C làm việc tại Công ty TNHH Đ và được cấp sổ bảo hiểm xã hội số 7412008055. Sau đó, ông C nghỉ việc và đến năm 2022 làm việc tại Công ty TNHH SX-TM V. Ngày 11/5/2023, ông C xin nghỉ việc và được Công ty TNHH SX-TM V ban hành Quyết định nghỉ việc số 04 ngày 15/5/2023.

Ông C đã nghỉ việc và có nhu cầu nhận bảo hiểm xã hội theo quy định. Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội thành phố T từ chối giải quyết vì trong quá trình đóng bảo hiểm trùng nên ông C không được nhận bảo hiểm xã hội theo quy định.

Nay ông C khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu. Ông C không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn X trình bày: Ông X là anh vợ của ông Trương Văn C. Do giấy chứng minh nhân dân của ông X bị ướt, ngày cấp bị mờ không thể công chứng, chứng thực được nên không thể xin việc tại Công ty. Do đó, ông X đã mượn giấy chứng minh nhân dân của ông C để tham gia ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH bao bì I. Trong thời gian thực hiện hợp đồng thì Công ty TNHH bao bì I đã tham gia bảo hiểm xã hội cho ông X với thông tin cá nhân của ông Trương Văn C từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 với mã số BHXH: 7412059201. Do đó, ông X thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động được ký giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu của ông Trương Văn C, sinh năm 1985; được Công ty TNHH bao bì I tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7412059201 từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 (kèm theo bản quá trình tham gia). Ông Trương Văn C chưa hưởng BHXH 1 lần, chưa hưởng trợ cấp BHTN. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì INNO từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Trương Văn C khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết “Tranh chấp hợp đồng lao động” đối với bị đơn Công ty TNHH bao bì I có trụ sở tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại các Điều 32, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Ông Trương Văn C và ông Nguyễn Văn X cùng thống nhất nội dung: Ông X là người trực tiếp tham gia ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 với thông tin cá nhân của ông Trương Văn C. Quá trình làm việc, Công ty TNHH bao bì I đã tham gia đóng bảo hiểm cho ông X với tên Trương Văn C với mã số BHXH 7412059201 thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012, chưa hưởng BHXH 01 lần. Xét thấy, việc ông X sử dụng thông tin của ông C để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 là hành vi gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật lao động. Do đó, việc ông Trương Văn C khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí lao động sơ thẩm: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 32, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật lao động;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn C đối với bị đơn Công ty TNHH bao bì I về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trương Văn C (do ông Nguyễn Văn X thực hiện) và Công ty TNHH bao bì I từ tháng 10/2012 đến tháng 11/2012 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Trương Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002521 ngày 9/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ