vanban.org

Bản án 21/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 28/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt bổ sung:

Về án phí: : Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy Lò Văn Ngạn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
toµ ¸n nh©n d©n
KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày 28/08/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Lý Đức Hiệp

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lù Thanh Xá

2. Bà: Lý Thị The

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà: Lâm Thị Tuyết - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Giàng Thị Dơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 08 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/HSST, ngày 01 tháng 08 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 15/08/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Ng

Sinh năm: 1970, tại xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Khu phố 3, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là Bản Bo, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Thái;

Tôn giáo: Không;

Giới tính: Nam;

Quốc tịch:Việt Nam

Con ông: Lò Văn B (đã chết) và con bà: Vàng Thị Th (sinh năm 1942) hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Bo, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu.

Gia đình bị cáo có 07 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình;

Vợ, con: Chưa có

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 18/8/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2017. Ngày 28/8/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2022. Đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/04/2025, đến ngày 29/04/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Mường Tè thuộc trại giam Công an tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng: Chị: Cà Thị Th - Sinh năm 2005

Trú tại: bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (nay là bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu).

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 22/04/2025, Lò Văn Ng đi lên bản Đầu bản Nậm Xả, xã Bum Tở, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Đầu bản Nậm Xả, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu) với mục đích tìm mua Heroin để sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Đầu Nậm Xả, xã Bum Tở Ng gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Qua trao đổi Ng nhờ người này mua hộ một gói Heroin (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được Heroin Ng cầm gói Heroin trên tay trái và đi về nhà tại khu phố 3, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Bo, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Đến khoảng 24 giờ cùng ngày, khi đi về đến nhà Ng để gói Heroin trên ghế trong nhà bếp. Khoảng 05 giờ sáng ngày 23/04/2025 Ng lấy gói Heroin để trên ghế ra chia thành 02 gói nhỏ (đề được gói bằng mảnh nilon màu hồng) để tiện cho việc sử dụng. Một lúc sau có Cà Thị Th (sinh năm 2025 trú tại bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu - nay là bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, tỉnh Lai Châu) đến nhà Ng chơi.

Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thị trấn Mường Tè (nay là Công an xã Bum Tở) phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Lai Châu tiến hành kiểm tra hành chính. Do lo sợ bị phát hiện Lò Văn Ng đã cầm 02 gói Heroin chạy vào nhà tắm rồi ném về phía bồn cầu (không xác định được rơi vào vị trí nào). Tổ công tác đã khống chế, kiểm tra và phát hiện thu giữ trong bồn cầu vệ sinh 01 gói Heroin được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,06 gam. Do lo sợ gói Heroin còn lại cũng bị phát hiện, thu giữ nên khi bị yêu cầu giao nộp vật cấm, Ng đã không khai báo với tổ công tác về việc vừa ném 02 gói Heroin.

Hồi 07 giờ 10 phút cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ng. quá trình khám xét Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ 01 gói Heroin được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,05 gam trong nắp bồn cầu đang để trên nền nhà tắm cạnh bồn cầu nhà vệ sinh. Ng khai đây là gói Heroin còn lại mà Ng đã ném cùng gói Heroin bị thu giữ trước đó. Ng khai việc cất giấu 02 gói ma túy là để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và mời người chứng kiến và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 23/04/2025 xác định khối lượng 02 (hai) gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn Ng có tổng khối lượng 0,11 (không phẩy mươi một) gam gửi toàn bộ đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 25/04/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 (hai) Mẫu chất bột khô màu trắng có khối lượng 0,11 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroin có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (không hoàn lại mẫu vật giám định).

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS -KV4 ngày 31 tháng 07 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4-Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn Ng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm):

c) Heroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…….

Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lò Văn Ng theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 02 (hai) gói chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng 0,11 gam là Heroin thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điều 50; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS và đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo và đề nghị miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); đề nghị xử lý vật chứng như sau: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng được đựng trong một phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, các mép dán kín.

Về phía bị cáo, tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát khu vực 4-Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.

* Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được đọc lại và tự nguyện ký nhận và bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,11 (không phẩy mươi một) gam heroine để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lai Châu tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi đi giám định. Kết luận giám định số 333/KL-KTHS ngày 25/04/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo Ng gửi giám định là ma túy, loại Heroin. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đã cho thấy: Hồi 05 giờ 30 phút ngày 23/04/2025, tại nhà của Lò Văn Ng tại khu phố 3, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là bản Bo, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu) tổ công tác Công an thị trấn Mường Tè (nay là Công an xã Bum Tở) phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh Lai Châu đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,06 gam

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ng quá trình khám xét Cơ quan điều tra phát hiện, thu giứ 01 gói Heroin được gói bằng mảnh nilon màu hồng có khối lượng 0,05 gam Heroin Ng khai việc cất giấu 02 gói ma túy là để sử dụng cho bản thân. Vì vậy Ng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với việc tàng trữ Heroin với khối lượng 0,11 gam. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS. Việc đề nghị áp dụng khoản 2 điều 51 BLHS của VKS vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. HĐXX xét thấy bản thân bị cáo trong quá trình đi chấp hành án trước khi phạm tội lần này đã được phổ biến tuyên truyền, giáo dục về các loại tội phạm ma túy bị cáo đã hiểu và biết nhưng vẫn cố tình thực hiện nên không áp dụng khoản 2 điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương, coi thường pháp luật. Bản thân bị cáo đã nhiều lần phải đi chấp hành án về các tội liên quan đến ma túy, tuy nhiên bị cáo chưa lấy đó làm bài học cho bản thân mà vấn tiếp tục phạm tội nên cần có một hình phạt nghiên khắc đối với bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo. Với khối lượng ma túy 0,11 gam của bị cáo tàng trữ để sử dụng việc đề nghị của VKS áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 02 (hai) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, HĐXX xét thấy có căn cứ, phù hợp cần chấp nhận, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Không có

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

- Đối với 02 gói heroine thu giữ của bị cáo Ng có khối lượng 0,11 gam: Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định không hoàn lại mẫu vật.

- Vật chứng còn lại: 02 mảnh nilon màu hồng được đựng trong một phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, các mép dán kín hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 - Lai Châu cần tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Về án phí: HĐXX xét miễn án phí cho bị cáo (vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn).

Trong vụ án này:

Về nguồn gốc số Heroin: Lò Văn Ng khai đã nhờ một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ mua hộ). Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai duy nhất của Ng, không có tài liệu, chứng cứ nào khác, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết vấn đề nêu trên.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/06/2025 của Quốc Hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Ng phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt bị cáo 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 23/04/2025.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền, tịch thu tài sản đối với bị cáo.

Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng được đựng trong một phong bì thư màu trắng do bưu điện phát hành, các mép dán kín.

Về án phí: : Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.

Cỡ chữ