vanban.org

Bản án 21/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phương Bắc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Bắc T 08 (T1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Bắc T - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phương Bắc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày 31-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Dũng

Ông Nguyễn Thanh Cần

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Phương Bắc T, sinh năm 1976, tại Bình Dương; nơi cư trú: tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha (không rõ) và bà Phan Thị Hoàng A (đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/8/2023 sau đó tạm giam đến nay; (có mặt)

- Người làm chứng: ông Trần Thanh N, ông Phan Hoài B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phương Bắc T, Phan Hoài B và Trần Thanh N có mối quan hệ quen biết nhau.

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/8/2023, T đang ở nhà thuộc tổ B, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, lúc này đối tượng tên K (không rõ lai lịch) đến nhà T để chơi, tại đây K cho T 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (là ma túy). Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, K bỏ đi đâu không rõ. Sau khi K về T mang gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng cất giấu tại phòng ngủ của T. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, T bỏ một ít ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng, cùng lúc này B đến nhà T để chơi nên T rủ B cùng sử dụng ma túy thì B đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, N đến nhà của T để chơi. Lúc này T rủ N cùng sử dụng ma túy với T và B thì N đồng ý. Sau khi sử dụng ma túy xong, T, N và B cùng nói chuyện tại phòng ngủ của T. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, Công an phường T kiểm tra hành chính tại nhà của T, qua kiểm tra phát hiện tại phòng ngủ của T có một nỏ thủy tinh bên trong còn chứa tinh thể màu nâu. T, N và B khai nhận vừa sử dụng ma túy. Công an phường T mời T, B và N về trụ sở làm việc. Qua làm việc T khai nhận đã tổ chức cho N và B sử dụng ma túy tại phòng ngủ của T. Công an phường T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, đồng thời thu giữ vật chứng gồm: 01 nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể màu nâu và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, Công an phường T chuyển hồ sơ, vật chứng thu giữ cùng với T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra bị can Phương Bắc T khai nhận: Ngoài lần tổ chức cho B và N sử dụng ma túy vào ngày 10/08/2023. Khoảng thời gian vào giữa tháng 7/2023, T đã tổ chức cho B sử dụng ma túy 01 lần tại phòng ngủ của T, tổ chức cho N sử dụng ma túy 05 lần tại phòng ngủ của T.

Tại Kết luận giám định số 493/KL-KTHS (MT) ngày 14/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B: Kết luận tinh thể màu nâu trong 01 nỏ thủy tinh, khối lượng 0,0376 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSTU ngày 12 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phương Bắc T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phương Bắc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Bắc T mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy: lượng ma tuý còn lại sau giám định đựng trong 01 bì thư được niêm phong, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái và chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về việc tham gia phiên tòa của những người tham gia tố tụng: người làm chứng ông Trần Thanh N, ông Phan Hoài B đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Quá trình điều tra, người làm chứng đã có lời khai đầy đủ, việc vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/8/2023, tại khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phương Bắc T đã có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ để cho Phan Hoài B và Trần Thanh N cùng sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, trong tháng 7/2023, T đã tổ chức cho N sử dụng ma túy 05 lần, cho B sử dụng ma túy 01 lần. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, mà còn gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo nhiều lần tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, cùng lúc tổ chức cho 02 người sử dụng trái phép chất ma tuý chứng tỏ sự coi thường, bất chấp pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của Phương Bắc T có khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,0139 gam loại Methamphetamine là chất cấm, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý là công cụ thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phương Bắc T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Bắc T 08 (T1) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/8/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma tuý còn lại sau giám định, khối lượng 0,0139 gam loại Methamphetamine chứa trong 01 (Một) bì thư niêm phong ký hiệu 493/PC09 có chữ ký người bị bắt Phương Bắc T, người chứng kiến Phan Hoài B, cán bộ niêm phong Lê Văn V, thượng uý Võ Đặng Anh K1 – Phó Công an phường và dấu đỏ của Công an phường T, dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B, 01 nỏ thuỷ tinh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế.

(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phương Bắc T phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ