vanban.org

Bản án 21/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma töy”. Các bị cáo Phạm Văn Y , Lương Văn T p và Hà Văn L phạm tội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Yen, Lễ Thiệp - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁ THƢỚC
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HSST
Ngày 29/7/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có : Thẩm phán- Chủ tọa piên tòa: Bà Trần Thị Quyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Cao Quý

2. Ông Lương Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký,TAND huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tö - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hña, xét xử sơ thẩm cóng khai vụ án hính sự thụ lý số: 19/2022/TLST-HS ngày 10/6/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo: 1 Họ và tên: Phạm Văn Y ; Tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 21/12/1999, tại xã Thiết Kế, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hña. Nơi cư trö: Thôn K xã TK, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trính độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính : Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lữ Văn B (đã chết) và bà Phạm Thị P ; Sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa cñ. Bị cáo là con duy nhất trong gia đính. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bá Thước đến nay. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn Đương - Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giöp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. 2. Họ và tên: Lƣơng Văn T ; Tên gọi khác: Không có; sinh ngày: 16/4/1998 Nơi cư trö: Thôn P , xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hña; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trính độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn N (Đã chết) và bà Vi Thị D , sinh năm: 1968; Vợ, con: Chưa cñ; Bị cáo có 02 (hai) chị em ruột, bị cáo là con thứ 02(hai) trong gia đính. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bá Thước đến nay. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Văn Đương - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giöp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. 3. Họ và tên: Hà Văn L ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 05/3/1994, tại xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hña. Nơi cư trö: Thôn P , xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hña; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trính độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị D , sinh năm 1963; Vợ: B÷i Thị D ; Sinh năm 1995; Bị cáo có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Bị cáo có 04 chị em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đính. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bá Thước đến nay. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Ngọc Hoàng - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giöp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Người làm chứng: Anh Hà Văn C , sinh năm 1996(cñ mặt) Nơi cư trö : Thón K , xã TK-BT, tỉnh Thanh Hña

- Anh Hà Văn A Sinh năm 2002(cñ mặt) Nơi cư trö : Thón H xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hña

- Anh Hà Văn Niệm, sinh năm 1963 (vắng mặt) Nơi cư trö: Thôn H xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hña

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu cñ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tñm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phöt, ngày 25/01/2022 khi Y , T , L , C , A đang sử dụng hồng phiến tại nhà của Thiệp ở Thón Pặt, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa thí bị tổ cóng tác của Cóng an huyện Bá Thước phối hợp với Cóng an xã Kỳ Tân phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ cóng cụ d÷ng để sử dụng ma töy tại vị trì Y , T , L , C , A sử dụng ma töy, thu giữ 03 viên nén màu hồng của Phạm Văn Y .

Quá trính điều tra các bị cáo khai: Vào khoảng giữa năm 2021, Phạm Văn Y lên huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa mua của một người đàn óng khóng quen biết 05 (năm) viên nén màu hồng là hồng phiến với giá 80.000 đồng (Tám mươi nghín đồng) được bọc trong gñi nilon màu đen, Yên cất dấu ở để sử dụng.

Đến khoảng 09 giờ 30 phöt, ngày 25/01/2022, Y lấy gói nilon màu đen chứa 05 (năm) viên hồng phiến đã mua trước đñ bỏ vào töi áo khoác bên phải đang mặc rồi rủ Hà Văn C g, sinh năm 1996 ở c÷ng thón đi chơi. C đồng ý rồi điều khiển xe máy BKS: 36G5-229.36 của C đến nhà Y để đi chơi. Sau đñ Y điều khiển xe máy của C và chở C đến nhà Lương Văn T , sinh năm 1998 ở thón Pặt, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước. Khi Y và C đến nhà Thiệp, thấy T đang ngủ ở nhà một mính. Y gọi T dậy và rủ T sử dụng hồng phiến thí T đồng ý. Y hỏi T cñ dụng cụ để sử dụng khóng, T trả lời là cñ ở dưới gầm bàn ti vi. Y lấy 01 (một) chai nhựa màu trắng dạng chai nước ngọt Sting trên thân chai cñ gắn sẵn 01 (một) ống tre dạng tẩu thuốc đang để ở gầm bàn ti vi, lấy 02 (hai) chiếc bật lửa gas và mảnh giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá cñ sẵn tại nhà T p để sử dụng ma töy. Yên lấy gñi hồng phiến đã cất dấu trong töi áo khoác ra và lấy ra 01 viên bỏ vào giấy bạc, sử dụng bật lửa gas đốt phìa dưới giấy bạc và d÷ng chai nhựa cñ gắn tẩu để sử dụng hồng phiến bằng hính thức höt, rồi Y đưa cho C , T cùng sử dụng. 04 viên còn lại Y gñi lại và cất dưới đệm ngay tại vị trì ngồi.

T Höt hồng phiến của Yên xong thì lấy từ dưới đệm nơi T ngủ 01 (một) gñi Heroine, T đã mua được của một người đàn óng khóng quen biết với giá 100.000 đồng (một trăm nghín đồng) ở cầu Hñn La, thuộc Phố Đồng Tâm 2, xã Thiết Ống, huyện Bá Thước vào ngày 22/01/2022 mục đìch là để sử dụng. T cho Heroin vào một tờ giấy bạc cñ sẵn ở nhà T , sử dụng bật lửa gas đốt Heroin, T và C cùng nhau sử dụng hết số Heroin của T .

Y đã gọi Lễ ở gần nhà T sang nhà T chơi. Một löc sau Lễ đến, thấy Y T , C g đang sử dụng hồng phiến thí L đã sử dụng c÷ng. Sau khi sử dụng xong hồng phiến, L lấy ra 01 (một) gñi Heroine từ trong töi quần đang mặc L đã mua được của một người đàn óng khóng quen biết tại khu vực ngã ba phố Đồng Tâm, xã Thiết Ống, huyện Bá Thước với giá 100.000 đồng (một trăm nghín) vào ngày 24/01/2022 với mục đìch là để sử dụng. L cho Heroine vào 01 mảnh giấy bạc cñ sẵn tại vị trì đang sử dụng ma töy, d÷ng bật lửa gas đốt Heroin để sử dụng, rồi đưa cho T và C c÷ng sử dụng hết gñi Heroine của L .

Khi T p, C , L đang sử dụng Heroine thí Yên điều khiển xe máy BKS 36G5-229.36 của C đi đến thón Khung, xã Thiết Kế, huyện Bá Thước đñn Hà Văn A , sinh năm 2002 ở thón H-KT huyện BT đến nhà T p để chơi, Y khóng nñi với A về việc sử dụng ma töy.

Quay trở lại nhà T c÷ng với A , Y lấy 01 (một) chai nhựa dạng chai nước ngọt Number 1, sử dụng bật lửa gas đốt tạo một lỗ trên thân chai, lấy ống tre dạng tẩu thuốc đang gắn ở chai nhựa, dạng chai nước ngọt Sting được sử dụng để höt hồng phiến trước đñ gắn lên chai nước ngọt Number 1, tạo ra dụng cụ höt hồng phiến mới. Sau đñ Y lấy ra thêm 01 (một) viên hồng phiến nữa để sử dụng, còn 03 (ba) viên hồng phiến còn lại Y gñi vào töi nilon màu đen cất ở đệm ngay vị trì ngồi để đem về sử dụng dần. Thấy Y , T , L , C sử dụng hồng phiến thí A cũng tham gia sử dụng c÷ng.

Kết quả khám xét khẩn cấp ngày 25/01/2022 của Cơ quan điều tra đối với nơi ở của các bị cáo khóng phát hiện ma töy hoặc đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tại bản Kết luận giám định số 649/KL-PC09-MT ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hính sự, Cóng an tỉnh Thanh Hña kết luận:“Chất màu trắng bám dính bên trong chai nhựa màu trắng dạng chai nước ngọt Sting của thùng carton ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine. Chất màu trắng bám dính trên ống tre gắn trên chai nhựa màu trắng dạng chai nước ngọt Number 1 của thùng carton ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine. Chất màu đen bám dính trên bề mặt 02 (hai) tờ giấy bạc dạng giấy bao thuốc lá đã bị đốt cháy một phần của thùng carton ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định,qua giám định không tìm thấy chất ma tuý. 03 (ba) viên nén màu hồng của phong bì niêm phong mặt trước có ghi “Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Y - M2” gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,295g (không phẩy hai chín năm gam) loại: Methamphetamine” (BLS 238-239).

Ngày 26/01/2022 Cơ quan điều tra Cóng an huyện Bá Thước đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện Bá Thước tiến hành xét nghiệm Hña sinh (nước tiểu) đối với Phạm Văn Y , Lương Văn T , Hà Văn L , Hà Văn A , Hà Văn C Kết quả xét nghiệm thể hiện: Phạm Văn Y dương tình với Methamphetamine; Lương Văn T dương tình với Methamphetamine và Morphin; Hà Văn L dương tình với Methamphetamine và Morphin; Hà Văn C dương tình với Methamphetamine và Morphin; Hà Văn A dương tình với Methamphetamine (BLS 50-54).

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSBT-MT ngày 10/6/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Phạm Văn Y về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS và tội “tàng trữ trái phép chất ma töy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Lương Văn T và Hà Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy” điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Bá Thước giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điều 55; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn Y . Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lương Văn T . Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hà Văn L .

Đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn Y phạm tội “ tổ chức sử dụng chất ma töy” và tội “ tàng trữ trái phép chất ma töy”, đề nghị tuyên bố các bị cáo Lương Văn T , Hà Văn L phạm tội“ tổ chức sử dụng chất ma töy”.

Đề nghị xử phạt: Hà Văn Y từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng t÷ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy” xử phạt Hà Văn Y từ 15 tháng t÷ đến 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma töy”. Tổng hợp hình phạt từ 09 năm 03 tháng t÷ đến 10 năm tù trừ thời giam tạm giữ, tạm giam. -Đề nghị xử phạt các bị cáo Lương Văn T và Hà Văn L mỗi bị cáo từ 7 năm t÷ đến 7 năm 06 tháng t÷ trừ thời giam tạm giữ, tạm giam. Không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng còn lại sau giám định.

Về án phí: Đề nghị HĐXX điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí cho các bị cáo.

Đề nghị không phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo đều là dân tộc thiểu số và thuộc hộ nghèo, cận nghèo.

Người bào chữa cho bị cáo Y và bị cáo T đồng tình với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhưng mong HĐXX xem xét xử các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đính và xã hội. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Phạm Văn Y từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng t÷ về tội “ tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy” và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Y từ 12 đến 15 tháng tù về tội sử “ tàng trữ trái phép chất ma töy”. Miễn án phí và không phạt bổ sung đối với bị cáo Yên.

Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo T mức án từ từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng t÷ về tội “ tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”. Miễn án phí và không phạt bổ sung đối với bị cáo Y .

Người bào chữa cho bị cáo L đồng tình với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhưng mong HĐXX xem xét xử phạt bị cáo L mức án thấp nhất. Miễn án phí và không phạt bổ sung đối với bị cáo L .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát huyện Bá Thước trong quá trính điều tra, truy tố đã thực hiện đöng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trính điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì. [2]. Về tội danh: Cñ căn cứ xác định Phạm Văn Y cất dấu 05 viên hồng phiến và Phạm Văn Y và Lương Văn T , Hà Văn L cùng tổ “chức sử dụng trái phép chất ma töy” đến 14 giờ 15 phöt, ngày 25/01/2022 khi Y , T , L A và C đang sử dụng hồng phiến tại nhà Thiệp ở Thón Pặt, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hña thí bị tổ cóng tác Cóng an huyện Bá Thước phối hợp với Cóng an xã Kỳ Tân phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ cóng cụ d÷ng để sử dụng ma töy và thu giữ 03 viên nén màu hồng của Phạm Văn Y có trọng lượng là 0,295g là ma töy loại methamphetamine. Đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội như Cáo trạng số: 23/CT-VKSBT-MT ngày 10/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước đã truy tố. [3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nghiêm trọng về chế độ quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Trong tình trạng thực tế, hiện tượng nghiện hút, tiêm chìch ma töy đang là vấn đề cảnh báo trên địa bàn và là vấn nạn của toàn xã hội. Ma töy đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, tan nát bao gia đính và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như “trộm cắp”; “lừa đảo”; “cố ý gây thương tìch”; thậm chì “giết người” cũng chỉ để thỏa mãn mục đìch cñ tiền để hút hìt. Do đñ cần phải được xử lý nghiêm. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt và tránh xa ma töy. Đây cũng là lời cảnh tỉnh đối với những người không làm chủ bản thân trước những cám dỗ và cái kết phải đứng trước phiên tòa xét xử ngày hóm nay để nhận hình phạt tương ứng với hành vi vi phạm pháp luật hình sự của mình. [4]. Đây là vụ án cñ đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cố ý cùng thực hiện chuẩn bị công cụ phương tiện và ma töy để sử dụng cùng nhau. Không có sự phân công, phân nhiệm chặt chẽ. Song cũng cần phân hóa vai trò của từng bị cáo. Đối với bị cáo Phạm Văn Y là người khởi xưởng và bị cáo rủ C đến nhà T chơi. Đến nhà T thì rủ T chơi ma töy. Y là người lấy dụng cụ ở nhà T và mang theo ma túy chuẩn bị cho các bị cáo khác cùng sử dụng ma túy nên Y xếp vai trò thứ nhất. Bị cáo Y có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS là “thành khẩn khai báo” .Bị cáo Y phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác.

Đối với Lương Văn T là người đồng ý cho mọi người sử dụng ma túy tại nhà mình, T có sẵn dụng cụ sử dụng tại nhà chỉ cho Phạm Văn Y lấy để chuẩn bị cho mọi người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hồng phiến của Phạm Văn Y , Lương Văn T p lấy trong túi quần ra 01 gói ma túy cho vào giấy bạc rồi sử dụng bật lửa ga đốt cho Thiệp và C cùng sử dụng. Như vậy Lương Văn T xếp vai trò thứ hai trong vụ án. Bị cáo T có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS là “thành khẩn khai báo”.

Đối với Hà Văn L là người đến sau cùng nhưng L mang theo 01 gói ma túy trong túi quần đang mặc vào mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa ga đốt và cùng sử dụng với T và C , L xếp vai trò thứ ba trong vụ án. Bản thân bị cáo L có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS là “thành khẩn khai báo” và có bố đẻ là người có công với Cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Hà Văn L mang ma töy đốt cho 03 (ba) người sử dụng nhưng bị cáo L có hai tình tiết giảm nhẹ, bị cáo T mang ma töy cho 02 (hai) người sử dụng nhưng sử dụng địa điểm nhà mình và dụng cụ có tại nhà cho mọi người sử dụng ma túy. Bị cáo L có 01 tình tiết giảm nhẹ. HĐXX căn nhắc về hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo nên xử phạt hình phạt của bị cáo Lễ và bị cáo Thiệp ngang nhau.

HĐXX không phạt bổ sung đối với các bị cáo vì các bị cáo đều là dân tộc thiểu số và thuộc hộ nghèo, cận nghèo.

Mức hình phạt của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị khóng đảm bảo tính giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung nên HĐXX khóng chấp nhận. [5]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: -Toàn bộ ma túy còn lại sau giám định và dụng cụ phương tiện để “tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”.

Toàn bộ số vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18 ngày 10/6/2022. [6]. Về án phí: Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Y và bị cáo T p thuộc hộ nghèo, bị cáo L thuộc hộ cận nghèo. Tại phiên tòa các bị cáo đều xin được miễn tòa bộ án phí hình sự sơ thẩm. HĐXX miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

Đối với Hà Văn C và Hà Văn A tuy được sử dụng trái phép chất ma túy do các bị cáo trong vụ án cho d÷ng nhưng C g và A không tổ chức cho ai sử dụng chất ma túy nên không phạm tội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của C và A đã bị xử phạt hành chình là đöng quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điềm b khoản 2 Điều 255; Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 58 ; Điều 55; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 và Điều 17 của Bộ luật hình sự;

- Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Y phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma töy”. Các bị cáo Phạm Văn Y , Lương Văn T p và Hà Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”. 3. Hình phạt: - Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 58 ; Điều 55; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Y 08 (Tám) năm t÷ về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”, xử phạt bị cáo Phạm Văn Y 18 (Mười tám) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma töy”. Tổng hợp hình phạt là 09 (Chìn) năm 06 (sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lương Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng t÷ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hà Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng t÷ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma töy”. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/01/2022. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án. 4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 th÷ng corton, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên Lê Minh Tiến, Lê Mạnh Hùng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong chứa: Toàn bộ vở bao gói mở niêm phong của thùng corton ký hiệu M1; phong bì mặt trước cñ ghi “ Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Y – M2”; 01 chai nhựa màu trắng dạng chai nước ngọt Sting, trên thân chai có lỗ hình tròn; 01(một) chai nhựa màu trắng dạng chai nước ngọt Number 1, trên thân chai có gắn 01(một) ống tre dạng tẩu thuốc; 02(hai) tờ giấy bạc dang giấy bao thuốc lá đã bị đốt cháy một phần; 01 gñi nilong màu đen của hộp corton ký hiệu M1 và 02(hai) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,197g ( không phẩy một chín bảy gam) của phong bì mặt trước có ghi (Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Y - M2) là ma túy, loại methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định. -01 (một) bật lửa ga màu hồng, bên ngoài có cuốn băng dình màu đen, đã qủa sử dụng. -01 bật lửa ga màu xanh, đã qua sử dụng. Toàn bộ số vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 18 ngày 10/6/2022.

- Về án phí: Các Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự. Án sơ thẩm có mặt các bị cáo Phạm Văn Y , Lương Văn T và Hà Văn L . Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ