- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 31-03-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đức và ông Nguyễn Kim Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mỹ Thương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 03 năm 2022; đối với bị cáo:
NGU N TH
Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 20/4/1989
Tại Đà Nẵng. Giới tính: Nữ.
Nơi ĐKNKTT: Tổ 09, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng.
Chổ ở hiện nay: K90/10 Nguyễn Phan V, tổ 69, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn C, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con út; c ch ng tên Phạm Đình T, sinh năm 1986. Bị cáo c 05 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nh nhất sinh năm 2020.
- Tiền án: Tháng 8 năm 2010, bị Tòa án nhân dân quận S tuyên phạt 42 tháng t giam về tội: Mua án trái ph p ch t ma t
đang đư c ho n thi hành án do nuôi con nh dưới 36 tháng tuổi .
- Tiền sự: Chưa.
- Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Người có qu ền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đ Phạ Đ c N, sinh năm 1996; địa chỉ: Số 04 Lê Cảnh T, tổ 85, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Bà T n Th Anh H, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 80, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Bà N
n Th H, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 27, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
+ Ông D n Văn P, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 89, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Bà T n Th Anh H, sinh năm 1986; địa chỉ: Lô 51-52 H Hán T, phường Nại Hiên Đ, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 21/10/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận S phối h p với Công an phường N tiến hành kiểm tra hành chính tại Phòng 303 Khách sạn C, phường N, quận S, TP. Đà Nẵng. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng c m t Nguyễn Thị L và Đ Phạm Đức N. Qua kiểm tra phát hiện, tại bàn để tivi g n cửa sổ trong phòng c 01 g i ni lông kích thước khoảng 5x8 cm, bên trong c chứa chất rắn, dạng tinh thể màu trắng và một số dụng cụ khác c liên quan nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và tạm giữ tang vật.
T n ậ ạ
:
- 01 g i ni lông, kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong c chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Ký hiệu niêm phong: L.
- 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh đen.
- 05 g i ni lông, kích thước 4x4)cm và 05 g i ni lông, kích thước 2x2)cm, bên trong không chứa gì.
- 04 n th y tinh và 01 bật lửa màu xanh
- 01 xe mô tô mang BKS 43E-556.19.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số imei: 355036112655621 c gắn sim số 0931272552.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen xanh gắn sim số 0907435243, số Imei 1: 860163041238358, số Imei 2: 860163041238341.
Qua điều tra xác định: Ngày 18/10/2021, để c ma túy sử dụng cho nhu c u c a bản thân, Nguyễn Thị L đ d ng số điện thoại 0931272552 liên hệ c a một người thanh niên tên B (không rõ nhân thân lai lịch ở quận C h i mua 05 gam ma túy với giá 3.500.000 đ ng. B đ ng ý và h n L đến đường H Hán T, quận S để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 20 giờ c ng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Sirius BKS 43E1-556.19 đi đến điểm h n với B thì c một nam thanh niên điều khiển xe mô tô hiệu ave không nhớ r BKS vì trời tối đến và giao 01 g i ni lông bên trong chứa ma túy đá cho L và L đưa cho người thanh niên này số tiền 3.500.000 đ ng. Sau khi mua đư c ma túy, L mang số ma túy n i trên về phòng 303, Khách sạn C (Phòng c a L thuê t tháng 7 năm 2021 cất giấu và m i ngày lấy ra một ít để sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2021, L sử dụng số điện thoại 0931272552 gọi cho Đ Phạm Đức N r N đến phòng 303, Khách sạn C để c ng sử dụng ma túy, N đ ng ý. Đến khoảng 22 giờ c ng ngày, N đến phòng c a Luận và cả hai c ng sử dụng ma tuý. Sau khi sử dụng ma túy thì cả hai đi ng . Đến 10 giờ ngày 21/10/2021, thì bị lực lư ng công an kiểm tra phát hiện 01 g i ni lông kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong c chứa số ma tuý còn lại mà L cất giấu để sử dụng d n nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật.
Theo biên bản xét nghiệm chất ma túy vào ngày 21/10/2021, Nguyễn Thị L và Đ Phạm Đức N dương tính với ma túy tổng h p.
Qua xác minh làm r : Nguyễn Thị L không phải đối tư ng nghiện ma túy còn Ngh a là đối tư ng nghiện ma túy.
Theo Kết luận giám định số 252/GĐ-MT ngày 27/10/2021 c a Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an thành phố Đà Nẵng thì: Tinh thể rắn, màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lư ng tinh thể m u L: 4,044 gam
* Lời khai của người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến đã được công ố tại phiên tòa có nội dung phù hợp với lời khai của ị cáo.
Bản cáo trạng số: 27/CT- VKS-ST ngày 02/03/2022 c a Viện Kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đ truy tố bị cáo: Nguyễn Thị L về tội: Tàng tr trái ph p ch t ma t
theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội: T chức s dụng trái ph p ch t ma t
theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố; đ ng thời đề nghị HĐXX:
- Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS;
Xử phạt: Nguyễn Thị L t 02 (Hai) năm 06 Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù, về tội: Tàng tr trái ph p ch t ma t .
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị L t 03 (Ba) năm 06 Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm tù, về tội: T chức s dụng trái ph p ch t ma t .
- Căn cứ: Điều 55 BLHS tổng h p hình phạt bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành hình phạt chung c a 02 tội là: 06 (Sáu) năm đến 07 (Bả ) năm tù. Thời hạn t tính t ngày bắt đi thi hành án.
* Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh đư c tài sản riêng c a bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS;
- Tịch thu tiêu h y: 01 phong bì niêm phong số: 252/GĐ-MT ngày 27/10/2021 c a Phòng khoa học hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong c chứa 3,705 gam ma túy loại Methamphetamine là khối lư ng còn lại sau giám định và toàn bộ bao g i; 04 n th y tinh; 01 bật lửa màu xanh; 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh - đen; 05 g i ni lông dạng túi zip, kích thước 04x04)cm và 05 g i ni lông, dạng túi zip, kích thước 02x02)cm, bên trong không chứa gì.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số imei: 355036112655621, gắn sim số 0931272552, trên sim c d y số: 8401-2011-3323-2632 c a Nguyễn Thị L.
+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu xanh – đen, số imei 1: 860163041238358, số imei 2: 860163041238341, gắn sim số 0907435243, trên sim c d y số: 8401-2002-3338-1882 c a Đ Phạm Đức Ngh a.
Tại phiên tòa, bị cáo đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không c ý kiến tranh L gì với ph n L tội c a Kiểm sát viên.
Lời n i sau c ng c a bị cáo: Bị cáo đ nhận thức r hành vi phạm tội c a mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đ ng xét xử xem xét giảm nh hình phạt.
NHẬN Đ NH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ đư c thẩm tra, xét h i, tranh L tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người c quyền l i và ngh a vụ liên quan đến vụ án không c người nào c ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều h p pháp.
[2]. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị L đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo. Lời khai nhận tội c a bị cáo ph h p với lời khai c a người c quyền l i, ngh a vụ liên quan, người chứng kiến cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đ thu thập c trong h sơ vụ án. HĐXX c đ cơ sở kết L: Khoảng 19 giờ ngày 18/10/2021, để c ma túy sử dụng cho nhu c u c a bản thân, Nguyễn Thị L đ liên hệ với người thanh niên tên B chưa r nhân thân, lai lịch để mua 3.500.000 đ ng ma túy, loại Methamphetamine. Sau khi mua đư c ma túy, L mang về cất giấu tại phòng 303, Khách sạn C thuộc phường N, quận S, TP. Đà Nẵng và m i ngày lấy ra một ít để sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 20/10/2021, Luận điện thoại r Đ Phạm Đức N đến phòng Khách sạn c a Luận thuê để sử dụng ma túy. Khi Ngh a tới, cả hai c ng sử dụng ma túy. Đến 10 giờ ngày 21/10/2021 thì bị lực lư ng công an bắt quả tang, tạm giữ 4,044 gam ma túy, loại Methamphetamine c a Lcất giấu với mục đích sử dụng d n nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện. Do đ , hành vi c a bị cáo đ yếu tố cấu thành tội: Tàng tr trái ph p ch t ma t
theo điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội: “T chức s dụng trái ph p ch t ma t
theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số: 27/CT- VKS-ST ngày 02/03/2022 c a Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đ truy tố bị cáo là c căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án thì thấy: Ma túy là một loại độc dư c gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy nhà nước ta nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt sử dụng trái phép các chất ma túy, nếu ai vi phạm một trong các quy định trên, gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật tr ng trị và xử lý. Bị cáo Nguyễn Thị L nhận thức đư c điều đ , song để phục vụ cho nhu c u bản thân, bị cáo đ bất chấp sự tr ng trị c a pháp luật, mua ma túy về sử dụng dụng và tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi c a bị cáo là nghiêm trọng, đ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy c a nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn x hội, đ ng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức kh e con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.
[4]. Xét hành vi phạm tội c a bị cáo thì thấy:
Trong vụ án này, bị cáo là người mua ma túy c a tên B chưa r nhân thân, lai lịch về cất giữ tại phòng 303 c a Khách sạn C – nơi bị cáo thuê để sử dụng. Đ ng thời, bị cáo còn là người r rê, cung cấp ma tuý, chuẩn bị công cụ để cho Đ Phạm Đức N sử dụng trái phép chất ma túy nên bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội c a bị cáo.
[5]. Xét nhân thân c a bị cáo thì thấy:
[5.1]. Về tình tiết tăng n ng: Nguyễn Thị L c 01 tiền án về tội: Mua án trái ph p ch t ma t
chưa đư c x a án tích mà lại tiếp tục phạm tội: T chức s dụng trái ph p ch t ma t
nên phải chịu tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2]. Về tình tiết giảm nh : Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo c thái độ khai báo thành khẩn, bị cáo đang nuôi con nh dưới 36 tháng tuổi. Do đ , c n vận dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo khi lư ng hình.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân c a bị cáo thì thấy c n phải cách ly ra kh i x hội một thời gian để các bị cáo c điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh đư c tài sản riêng c a các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[7]. Về xử lý vật chứng:
[7.1]. Đối với 01 phong bì niêm phong số: 252/GĐ-MT ngày 27/10/2021 c a Phòng khoa học hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong c chứa 3,705 gam ma túy loại Methamphetamine là khối lư ng còn lại sau giám định và toàn bộ bao g i; 04 n th y tinh; 01 bật lửa màu xanh; 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh - đen; 05 g i ni lông dạng túi zip, kích thước 04x04)cm và 05 g i ni lông, dạng túi zip, kích thước 02x02)cm, bên trong không chứa gì – Là vật chứng c a vụ án nên c n tịch thu tiêu h y.
[7.2]. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số imei: 355036112655621, gắn sim số 0931272552, trên sim c d y số: 8401-2011-3323-2632 c a Nguyễn Thị L và 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu xanh – đen, số imei 1: 860163041238358, số imei 2: 860163041238341, gắn sim số 0907435243, trên sim c d y số: 8401-2002-3338-1882 c a Đ Phạm Đức N - Là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên c n tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
(Toàn ộ số vật chứng nà hiện na do Chi cục Thi hành án quận S, TP. Đà Nẵng đang tạm gi theo iên ản giao nhận vật chứng ngà 25/03/2022).
[7.3]. Đối với Đ Phạm Đức N: N không tham gia vào việc chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm, phương tiện phục vụ cho việc sử dụng ma túy và cũng không g p tiền cho L để đư c sử dụng ma túy. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy c a N đ bị Tòa án nhân dân quận S ra Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là c cơ sở.
[7.4]. Đối với bà Trương Thị Anh H là ch Khách sạn C nơi L thuê phòng nhưng bà H không biết việc L sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại khách sạn c a mình nên Cơ quan CSĐT – Công an quận S không đề cập xử lý là c căn cứ.
[7.5]. Đối với người thanh niên tên B bán ma túy cho L hiện chưa r nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tách ra, tiếp tục điều tra, làm r và xử lý sau là c cơ sở.
[7.6]. Đối với Nguyễn Thị H: Khi cho L mư n xe BKS 43E-556.19, chị H chị ruột c a L không biết L sử dụng xe vào mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận S không đề cập xử lý và đ trả lại xe mô tô trên cho chị H là ph h p.
Xét các đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay ph h p với nhận định c a HĐXX nên chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QU ẾT Đ NH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo N
n Th
phạm tội: Tàng tr trái ph p ch t ma t
và tội “T chức s dụng trái phép ch t ma túy”.
1.1. Căn cứ: Điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội: Tàng tr trái ph p ch t ma t .
1.2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị L 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội: T chức s dụng trái ph p ch t ma t .
1.3. Căn cứ: Điều 55 BLHS tổng h p hình phạt bị cáo Nguyễn Thị L phải chấp hành hình phạt chung c a 02 tội là: 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn t tính t ngày bắt đi thi hành án.
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS;
2.1. Tịch thu tiêu h y: 01 phong bì niêm phong số: 252/GĐ-MT ngày 27/10/2021 c a Phòng khoa học hình sự - Công an thành phố Đà Nẵng, bên trong c chứa 3,705 gam ma túy loại Methamphetamine là khối lư ng còn lại sau giám định và toàn bộ bao g i; 04 n th y tinh; 01 bật lửa màu xanh; 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh - đen; 05 g i ni lông dạng túi zip, kích thước 04x04)cm và 05 g i ni lông, dạng túi zip, kích thước 02x02)cm, bên trong không chứa gì.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số imei: 355036112655621, gắn sim số 0931272552, trên sim c d y số: 8401-2011-3323-2632 c a Nguyễn Thị L.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, màu xanh – đen, số imei 1: 860163041238358, số imei 2: 860163041238341, gắn sim số 0907435243, trên sim c d y số: 8401-2002-3338-1882 c a Đ Phạm Đức N.
(Toàn ộ số vật chứng nà hiện na do Chi cục Thi hành án quận S, TP. Đà Nẵng đang tạm gi theo iên ản giao nhận vật chứng ngà 25/03/2022).
3/ Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 đ ng.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo c m t c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Riêng người c quyền l i ngh a vụ liên quan vắng m t c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c trích sao bản án.
Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự c quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận S; - Chi cục THADS quận S; - Lưu h sơ; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩ phán - Chủ oạ ph ên oà N n Th Đôn Th nh |