vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chưởng Tài M1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Chưởng Tài M1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Chưởng Tài M1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo M1 có trách nhiệm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chưởng Tài M1 - Mua bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chưởng Tài M1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
TỈNH QUẢNG NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày: 26- 4- 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Lê và bà Nguyễn Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Chưởng Tài M1; sinh năm 1955, tại: H, Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chưởng Quay P và bà Chìu Tài M; có chồng là Triệu Tùng H và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa có; bị cáo bị bắt ngày 06/02/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

* Người làm chứng:

- anh Phạm Thế M2, vắng mặt.

- anh Tằng A D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng thời gian tết Nguyên đán năm 2022, Chưởng Tài M1 nảy sinh ý định bán pháo kiếm lời nên đã mua 02 thùng pháo diêm và 90 băng pháo tép của một người đàn ông (không xác định được lai lịch, địa chỉ) tại khu vực đường cao tốc thuộc xã T, huyện H. Sau đó M1 cất giấu 02 thùng pháo diêm tại phòng ngủ, 90 băng pháo tép tại phòng ăn của nhà M1 ở thôn 3, xã T, huyện H để bán khi có khách hỏi mua. Đến khoảng 14 giờ ngày 06/02/2022, Phạm Thế M2, sinh năm 2005; trú tại thôn 3, xã P, huyện H đến nhà M1 hỏi mua pháo tép để sử dụng. M1 dẫn M2 vào phòng ăn, sau đó lấy 90 băng pháo tép để lên bàn cho M2 xem thì bị Tổ công tác công an huyện H kiểm tra, phát hiện và thu giữ toàn bộ số pháo nêu trên, đồng thời ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Chưởng Tài M1.

Tại bản kết luận giám định số 803/C09-P2 ngày 08/02/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: các vật hình trụ vỏ giấy màu đỏ, một đầu có gắn dây ngòi được liên kết với nhau thành tràng (90 tràng) đều là pháo nổ, khối lượng là 4,5kg. Các vật hình trụ, có kích thước khác nhau bám dính chất bột màu xám bọc trong giấy màu đựng trong các túi nilon. Các vật trên đựng trong 1000 khối hộp, vỏ bọc giấy màu dạng bao diêm đều là pháo nổ, khối lượng 6,4kg. Tất cả số pháo nổ trên đều mang nhãn hiệu do nước ngoài sản xuất.

Các vật chứng gồm: Số pháo còn lại sau khi trích mẫu giám định đã tịch thu tiêu hủy.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Người làm chứng là anh Phạm Thế M2 và Tằng A D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai thể hiện:

- anh Phạm Thế M2 khai: qua giới thiệu của bạn bè, tôi biết nhà bà Chưởng Tài M1 ở thôn 3, xã T, H có bán pháo diêm và pháo tép. Chiều ngày 06/02/2022 tôi một mình đến nhà bà M1 hỏi mua pháo về đốt, khi đến gặp bà M1 được bà đưa vào trong phòng ăn nhà bà. Bà M1 đổ nhiều giàn pháo (loại pháo tép) tết thành giàn cho tôi xem. Khi hỏi giá thì bà M1 bảo 20.000đ - 30.000đ/01 giàn pháo tép. Bà M1 còn nói giá pháo diêm là 5.000đ/1 hộp pháo diêm. Khi bà M1 đang bày pháo cho tôi xem thì bị lực lượng công an huyện H kiểm tra, phát hiện.

- anh Tằng A D khai: khoảng 14 giờ ngày 06/02/2022 tôi được chứng kiến tổ công tác Công an huyện H phối hợp với công an xã T tiến hành kiểm tra nhà bà Chưởng Tài M1, sinh năm 1955; trú tại: thôn 3, xã T, huyện H. Quá trình kiểm tra phát hiện gian bếp nhà bà M1 có 90 (chín mươi) băng pháo có kích thước tương tự nhau dài khoảng 17cm, mỗi băng gồm nhiều quả pháo dài khoảng 3cm, đường kính khoảng 0,5cm một đầu có dây cháy chậm được tết thành băng. Bà M1 khai nhận với cơ quan Công an toàn bộ số pháo trên là của bà M1 cất giấu trong nhà với mục đích để bán kiếm lời.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSHH ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo: Chưởng Tài M1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Chưởng Tài M1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo về cho UBND nơi bị cáo thường trú theo dõi, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sửa chữa sai lầm của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất, mức độ hành vi của người phạm tội: tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, Kết luận giám định số 803/C09-P2 ngày 08/02/2022 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Bị cáo khẳng định, những lời khai tại cơ quan điều tra là tự nguyện, đúng sự thật, không bị ép cung, mớm cung hoặc nhục hình. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ ngày 06/02/2022, Chưởng Tài M1 có hành vi cất giấu 10.9kg (mười phẩy chín ki lô gam) pháo nổ tại nhà ở thôn 3, xã T, huyện H mục đích để bán kiếm lời. Khi M1 đang thực hiện hành vi bán pháo nổ cho Phạm Thế M2 thì bị Công an huyện H phát hiện bắt giữ.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số hàng cấm. Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán pháo nổ bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn cố tình thực hiện, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở miền núi thuộc vùng có điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển nên nhận thức pháp luật hạn chế; là người cao tuổi (67 tuổi) lại thường xuyên đau ốm; các thành viên trong gia đình luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy, mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nhưng bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giám sát, giáo dục; có khả năng tự cải tạo nên việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đang áp dụng đối với bị cáo cần hủy bỏ.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người cao tuổi, hay đau ốm, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn… nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số pháo còn lại sau giám định đã tiêu hủy nên không đề cập.

Về án phí và quyền kháng cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, Phạm Thế M2 có hành vi hỏi mua pháo nhưng chưa thực hiện xong việc mua bán và người đàn ông bán pháo cho Chưởng Tài M1 quá trình điều tra chưa xác định được nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Chưởng Tài M1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Chưởng Tài M1 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Chưởng Tài M1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo M1 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo Chưởng Tài M1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số 13/2022/QĐ-CQCSĐT ngày 11 tháng 02 năm 2022 và Quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh số 13/2022/QĐ-CQCSĐT ngày 11/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H.

2. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Chưởng Tài M1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ