vanban.org

Bản án 21/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 03/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V phạm tội

“Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D và ĐP - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V phạm tội
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:21/2021/HS-ST
Ngày: 03/02/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lượng;

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Quân;

2. Ông Nguyễn Hải Đường.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1997; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Chu Quyến, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền tiền sự: Không;

Tiền án: - Tại Bản án số 46/HSST ngày 03/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử, phạt Nguyễn Văn D 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự 1999.

- Tại Bản án số 64/HSST ngày 18/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử, phạt Nguyễn Văn D 12 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999.

- Tại Bản án số 88/HSST ngày 11/10/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử, phạt Nguyễn Văn D 26 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999; chấp hành hình phạt tù ra trại ngày 18/9/2020.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 13/01/2021; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

2. Nguyễn Quang V, sinh năm 1983; SQ: Hùng Sơn, Tràng Định, Lạng Sơn; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Khơ Đa, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Nông Thị Nghĩa, sinh năm 1992 và có 02 con con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền sự: Không;

Tiền án: Tại Bản án số 33/HSST ngày 29/5/2019 Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử phạt Nguyễn Quang V 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 1999; ra trại ngày 28/4/2020; chưa được xóa án tích.

Nhân thân: - Tại Bản án số 09/HSST ngày 04/9/2007 Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử, phạt Nguyễn Quang V 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự 1999.

- Ngày 13/11/2008, Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án 09 năm 2007, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 tháng tù.

- Tại Bản án số 59/HSST ngày 18/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử phạt Nguyễn Quang V 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/01/2021; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

3. Nguyễn Quang H, sinh năm 1991; ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Tân Thành, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hồng, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Ngân, sinh năm 1971; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Đinh Thị Quỳnh, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giam ngày 13/01/2021; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Vũ Hữu Th, sinh năm 1986; chỗ ở: Thôn Xuân Bình, xã Đại Xuân, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.AAA

2. Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 19670; chỗ ở: Số 207 Trần Đăng Ninh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung được tóm tắt như sau:

Khoảng 02h20’ ngày 13/01/2021, tại Km 135 Quốc lộ 1A (cao tốc Hà Nội- Lạng Sơn) đoạn thuộc địa phận phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Ninh và Đội quản lý thị trường số 3- Cục quản lý thị trường tỉnh Bắc Ninh tiến hành dừng và kiểm tra hành chính đối với xe ô tô Inova, BKS 12A-010.89 do Nguyễn Quang H điều khiển hướng Lạng Sơn- Hà Nội, trên xe có Nguyễn Văn D. Quá trình kiểm tra xe ô tô phát hiện có 07 bao tải dứa màu xanh, mở ra bên trong là 7 thùng catton, trong đó 6 thùng catton chứa 108 hộp hình lập phương đều có kích thước (14,5x14,5x14,5)cm, mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn và 01 thùng catton chứa 06 hộp hình lập phương đều có kích thước (24x24x14,5)cm, mỗi hộp có 100 ống hình trụ tròn, bên ngoài mỗi hộp được quấn lớp giấy màu vàng, đỏ có in chữ Trung Quốc, theo Nguyễn Văn D khai nhận tất là đều là pháo hoa nổ D mua từ Lạng Sơn mang về Hà Nội bán mục đích để kiểm lời. Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Cùng ngày 13/01/2021 Cơ quan CSĐT Công tỉnh Bắc Ninh thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 151/KLGĐP- PC09 ngày 13/01/2021 của

Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

“- 108 hộp hình lập phương đều có kích thước (14,5x14,5x14,5) cm, bên

ngoài mỗi hộp được quấn lớp giấy màu vàng, đỏ và có in chữ Trung Quốc, bên trong mỗi hộp đều có 36 ống hình trụ tròn gửi giám định là pháo hoa nổ; Tổng khối lượng 151,25kg.

- 06 hộp hình lập phương đều có kích thước (24x24x14,5) cm, bên ngoài

mỗi hộp được quấn lớp giấy màu vàng, đỏ và có in chữ Trung Quốc bên trong mỗi hộp đều có 100 ống hình trụ tròn gửi giám định là pháo hoa nổ; Tổng khối lượng 21,82kg”.

Tổng khối lượng là: 173,07kg pháo hoa nổ.

(Pháo hoa nổ được quy định tại Nghị định số 137/2020/NĐ-CP, ngày

27/11/2020 của Chính phủ về Quản lý, sử dụng pháo).

Ngày 14/01/2021 Nguyễn Quang V đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc

Ninh đầu thú về hành vi buôn bán số pháo trên cho Nguyễn Văn D.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Trong quá trình làm

thuê tại Lạng Sơn, Nguyễn Văn D quen biết Nguyễn Quang V và Nguyễn Quang H. Biết V có nguồn pháo hoa nổ nên D đã nảy sinh ý định mua về bán trong dịp tết để kiếm lời. D đặt vấn đề với V bảo V đi tìm mua 06 thùng pháo hoa nổ loại 36 quả bán lại cho D để D mang về Ba Vì- Hà Nội bán. Do trước đó V có nợ D tiền nên V đồng ý.

V lên khu vực đường biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc gặp

một người đàn ông Trung Quốc, thỏa thuận mua pháo hoa nổ dạng bệ loại 36 quả với giá 2.250.000.đ một thùng (01 thùng = 18 bệ). Sau đó V gom và mua được 05 thùng pháo hoa nổ loại 36 quả và 01 thùng pháo hoa nổ loại 100 quả. Đến khoảng 19 giờ ngày 12/01/2021, D dùng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo gọi cho V hỏi đã gom đủ hàng chưa, V trả lời “chưa có”, do còn thiếu 01 thùng loại 36 quả theo như yêu cầu của D. Thấy vậy, D giục V tiếp tục đi gom cho đủ, V đồng ý. Sau đó, D gọi điện thoại cho H hỏi việc thuê xe chở pháo hoa nổ về Ba Vì- Hà Nội, hai bên thỏa thuận giá 3.000.000đồng chở cả hàng và người. H yêu cầu D phải thanh toán trước 2.000.000đ. D đồng ý hẹn khi nào D gọi điện mang xe lên chở hàng thì sẽ đưa tiền, còn 1.000.000đồng khi nào về tới Hà Nội thì D thanh toán nốt.

Khoảng 00 giờ ngày 13/01/2021 sau khi được V thông báo đã gom đủ hàng,

D gọi điện cho H lái xe lên đón D tại khu vực gốc Bưởi, xã Tân Mỹ, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Sau đó H điều khiển xe Inova BKS 12A-010.89 (là xe ô tô H thuê tự lái từ hôm trước để đi về quê Thái Nguyên) đến điểm hẹn đón D, rồi hai người đi đến chỗ V hẹn lấy hàng cách đó khoảng 500m. Đến nơi, thấy V đang đứng trên vỉa hè bên cạnh có 07 thùng cát tông được bọc ngoài là lớp bao tải dứa màu xanh. Tại đây V thỏa thuận bán cho D với giá 4.000.000đồng/thùng, do D nhất trí mua cả 7 thùng nên V chỉ lấy 24.000.000đ/7 thùng. D hẹn V khi nào bán được pháo sẽ mang tiền về trả cho V. Sau đó ba người chuyển toàn bộ 7 thùng pháo hoa nổ lên xe ô tô, H và D đi thẳng về Hà Nội. Trên đường đi D đã thanh toán cho H 2.000.000 đồng. Khi đi đến Km 135 Quốc lộ 1A (cao tốc Hà Nội-Lạng Sơn) đoạn thuộc địa phận phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh thì bị bắt giữ như trên.

* Vật chứng của vụ án

- Gồm toàn bộ số pháo hoa nổ còn lại sau giám định, trong đó gồm: Vỏ đựng

mẫu vật; 150,5kg mẫu vật còn lại sau giám định.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO i808 của Nguyễn Văn D

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Nguyễn Quang H

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo của Nguyễn Quang V

- 01 ôtô nhãn hiệu Inova biển kiểm soát: 12A-010.89 và toàn bộ giấy tờ của

xe gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Trần Tuấn Sơn, địa chỉ: 17 Hoàng Diệu, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn; 01 giấy chứng nhận kiềm định số: KD 3597546; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe.

Quá trình điều tra xác định: Anh Sơn đã bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn

Quang L, sinh năm: 1967, trú tại: số 207 Trần Đăng Ninh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Ngày 10/01/2021 anh Long cho H thuê chiếc xe trên. Việc H sử dụng chiếc xe làm phương tiện vận chuyển pháo hoa nổ là tự ý, không trao đổi bàn bạc gì với anh Long, anh Long không biết cũng không được hưởng lợi gì từ việc làm trên của H. Do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô cùng toàn bộ giấy tờ cho anh Long.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-P1 ngày 20/01/2021 của Viện kiểm sát nhân

dân tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan. Dề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại

phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V, mỗi bị cáo từ 09 đến

10 năm tù.

* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 05 đến 06 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho cả 3 bị cáo.

* Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ còn lại

sau giám định.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO

i808 của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của Nguyễn Quang H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Quang V. Truy thi của bị cáo H 2.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Quang V và Nguyễn Quang H nhất trí

với quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát, không tham gia tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời

khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi, Nguyễn Văn D đã mua của Nguyễn Quang V 07 thùng pháo hoa nổ, trong đó có 6 thùng loại 36 quả và 01 thùng loại 100 quả với tổng khối lượng là 173,07kg với giá 24.000.000 đồng. D đã thuê H vận chuyển thuê từ Lạng Sơn về Ba Vì, Hà Nội tiêu thụ với tiền công là 3.000.000 đồng. H đã nhận của D 2.000.000 đồng. Khi đang vận chuyển hàng về đến khu vực địa phận phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận giám định toàn bộ 173,07 kg là pháo hoa nổ. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 5 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm” về quản lý, sử dụng pháo. Vì vậy, HĐXX thấy có căn cứ xét xử các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm

phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng hóa có điều kiện. Hành vi của các bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải cần thiết phải có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, HĐXX nhận thấy: Trong vụ án

này, bị cáo D và V giữ vai trò chính. D và V đã mua bán một số lượng lớn pháo hoa nổ nhằm mục đích kiếm lời. Mặc dù biết rõ là pháo hoa nổ, nhưng H đã vận chuyển thuê cho D từ Lạng Sơn về Hà Nội để hưởng lợi số tiền 3.000.000 đồng, bị cáo đã nhận được 2.000.000đ.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

của các bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Nguyễn Quang V có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”; bị cáo Nguyễn Văn D có 03 tiền án chưa được xóa án tích nên phải 01 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm nguy hiểm” đều quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều

thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Quang H đã có thời gian đi nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, các bị cáo mua bán và vận chuyển số lượng lớn pháo hoa nổ, nên

cần buộc cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục. Do các bị cáo đều hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số pháo hoa nổ còn lại sau giám định

cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO i808 của Nguyễn Văn D;

01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của Nguyễn Quang H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Quang V, các bị cáo khai nhận đã sử dụng những chiếc điện thoại trên để liên lạc trong quá trình trao đổi mua bán và vận chuyển pháo nổ nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với H được hưởng lợi bất chính 2.000.000đ nên cần truy thu sung

ngân sách nhà nước.

- Đối với anh Nguyễn Quang L là chủ sở hữu xe ô tô Inova biển kiểm

soát:12A-010.89 cho Nguyễn Quang H thuê xe, sau đó H sử dụng làm phương tiện vận chuyển pháo hoa nổ, quá trình thực hiện H không trao đổi bàn bạc gì với anh Long, anh Long không biết cũng không được hưởng lợi gì nên không xem xét xử lý là phù hợp.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Quang V và Nguyễn Quang H

phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D và Nguyễn Quang V phạm tội

“Buôn bán hàng cấm”. Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

1.1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày

bắt tạm giữ, tạm giam 13/01/2021.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ

ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/01/2021.

1.2 Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/01/2021.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO

i808 của Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE của Nguyễn Quang H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Nguyễn Quang V.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản

số 52/2021 ngày 22/01/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo hoa nổ còn lại sau giám định gồm 150,5

kg và vỏ đựng mẫu vật được niêm phong có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Bắc Ninh (Hiện do Công an tỉnh Bắc Ninh quản lý).

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Quang H 2.000.000 đồng sung ngân sách nhà

nước.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D, Nguyễn Quang V và Nguyễn Quang H

mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án.

Cỡ chữ