vanban.org

Bản án 21/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 27/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C): 05 (Năm) tháng tù. Được trừ 01 tháng 02 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/9/2013 đến ngày 28/10/2013). Thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 03 tháng 28 ngày tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù của bản án số 263/2012/HSST ngày 23/10/2012 T…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị C (tức Mai C) phạm tội "đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C) phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HSST
Ngày: 27 - 8- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa:

Bà Hồ Thị Minh Hạnh Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hằng

2. Bà Trần Thị Chuyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 27- 8-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2020/TLST- HS ngày 30 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C) - Sinh năm 1959; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: phường Ba Đ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa: 5/10; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lê Thị N; chồng: Ninh Thế H, có 03 con: lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án: ngày 23/10/2012 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc”, thời gian thử thách 42 tháng 28 ngày; tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 23/5/2017 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “ Đánh bạc”, hiện đang tạm hoãn thi hành án phạt tù theo Quyết định hoãn thi hành án số 17/2019/QĐ-CA ngày 12/7/2019; ngày 02/6/2020 bị khởi tố bị can về tội “ Đánh bạc”, theo Quyết định khởi tố bị can số 88/CSĐT của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/9/2013, tạm giam ngày 02/10/2013, đến ngày 28/10/2013 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T1 liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/9/2013, Doãn Hữu H1 điện thoại cho người thanh niên tên là H2 ở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (không biết địa chỉ) trong lúc trao đổi qua điện thoại thì H2 nói hiện nay có một số con bạc ở thành phố Thanh Hóa muốn đánh bạc nhờ H1 tìm địa chỉ, H1 đồng ý, đến khoảng 14 giờ ngày 26/09/2013, H1 điện thoại cho H2 và nói “đã tìm được điểm đánh bạc ở khu vực lò gạch xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn”. Sau khi nghe điện thoại H2 liền mang một số công cụ đánh sóc đĩa gồm 05 quân vị, bát, đĩa, thớt, đục và đi cùng với một số người phụ nữ ở thành phố Thanh Hóa (chưa rõ tên tuổi) thuê xe taxi đến khu vực lò gạch xã Đông Thịnh để đánh bạc thì H1 ra đón vào căn nhà hoang của gia đình ông Lê Văn T1, vào tới nơi, H2 tiếp tục gọi điện cho một số con bạc ở thành phố Thanh Hóa đến đánh bạc. H1 cho người chuẩn bị một số ghế nhựa để trong nhà hoang của gia đình ông Lê Văn T1 ở Đông Thịnh. Khi vào trong nhà bỏ hoang của gia đình ông Lê Văn T1 ở Đông Thịnh, thì các đối tượng tiến hành đánh bạc ăn tiền bằng hình thức sóc đĩa. khi đang đánh bạc thì có Trần Nam A thuê taxi đến. Đào Khả M đi xe ôm đến. Vũ Thị D đi tắc xi đến. Đỗ Thị T1 bắt xe tắc xi đến. Nguyễn Thị T2 đi xe tắc xi đến. Nguyễn Thị C (tức Mai C) thuê xe ôm đến. Nguyễn Thị Y thuê xe tắc xi đến. Mai Trường S có người thanh niên nam giới lai đến. Cùng một số đối tượng chưa rõ tên và quán chỉ đến tham gia đánh bạc xóc đĩa ăn tiền. Lúc này H2 là người cầm cái xóc đĩa còn H1 là người quản lý tiền của 2 bên chẵn, lẻ của các đối tượng đánh bạc, chịu trách nhiệm lấy tiền của bên thua giao cho bên thắng. Nguyễn Thị C có mang theo 100.000 đồng để dùng vào việc đánh bạc (thả diều). Khi các đối tượng đang đánh bạc đến khoảng 17 giờ ngày 26/09/2013 thì bị Công an huyện Đông Sơn và Công an xã Đông Thịnh phối hợp bắt quả tang. Một số đối tượng lợi dụng sơ hở đã bỏ chạy trong đó có H2 người ở thành phố Thanh Hóa là người cầm cái, còn một số đối tượng thì bị bắt gồm: Doãn Hữu H1, Trần Nam A, Mai Trường S, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Y, Đỗ Thị T2, Đào Khả M, Vũ Thị D, Nguyễn Thị C, Dương Bá B và Nguyễn Văn H3.

Hình thức đánh bạc xóc đĩa: là dùng 01 (một) bát, 01 (một) đĩa, 04 (bốn) quân vị tròn có hai mặt trắng và vàng. Một người bỏ 4 quân vị vào một cái đĩa và úp bát lên để xóc 04 (bốn) quân vị. Các con bạc ngồi xung quanh người xóc đĩa và tự đặt tiền từ 50.000đồng đến 100.000 đồng theo bên chẵn hoặc bên lẻ. Khi xóc đĩa xong thì người cầm cái mở bát ra nếu quân vị là chẵn thì bên đặt tiền chẵn thắng và ngược lại.

Vật chứng thu giữ gồm 4.550.000 đồng, 02 chiếc đĩa sứ, 05 chiếc bát sứ, 05 quân vị, 01 chiếc thớt nhựa, 01 khúc gỗ, 02 bộ bài chắn, 09 điện thoại di động các loại, 04 ví da các loại, 01 tấm thảm màu đỏ, 01 chiếc chiếu cói, 01 chiếc làn nhựa, 30 chiếc ghế nhựa màu đỏ, 01 bản vị.

Ngày 27/3/2014, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn đã đưa ra xét xử đối với Doãn Hữu H1, Trần Nam A, Vũ Thị D, Đỗ Thị T2, Nguyễn Thị T1, Đào Khả M, Nguyễn Thị Y, Mai Trường S. Riêng đối với Nguyễn Thị C, trong thời gian tống đạt kết luận điều tra do bị can mắc bệnh hiểm nghèo phải điều trị tại bệnh viện nên không tống đạt được kết luận điều tra. Ngày 24/01/2014 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách hồ sơ vụ án hình sự tạm Đ chỉ điều tra đối với Nguyễn Thị C chờ xử lý.

Trong quá trình tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Thị C về tội “Đánh bạc” xảy ra ngày 26/9/2013, Nguyễn Thị C tiếp tục phạm tội mới, ngày 23/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù, hiện đang được tạm hoãn thi hành án. Ngày 22/6/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Sơn ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can đối với Nguyễn Thị C về tội “Đánh bạc” theo Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Vật chứng trong vụ án cũng đã được xét xử trong bản án số 04/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Tại cáo trạng số 22/CT-VKSĐS ngày 28/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Sơn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33, khoản 5 Điều 60, Điều 50, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 đề nghị xử phạt Nguyễn Thị C từ 04 tháng đến 07 tháng tù, tổng hợp với 24 tháng tù của bản án số 263/2012/HSST ngày 23/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa (do bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án; đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Ngày 19/8/2020 bị cáo Nguyễn Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, với lý do vì sức khỏe, bị cáo vừa phẫu thuật chân và mắt (có bệnh án kèm theo). Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì.

. Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra ( BL 221 đến BL 229, lời khai của các bị cáo khác (đã xét xử tại bản án số 04/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa - BL 180 đến 8l 220, BL 230 đến BL 248), biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 26/9/2013 tại ngôi nhà bỏ hoang ở xã Đông Thịnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, bị cáo cùng với các đối tượng gồm Doãn Hữu H1, Trần Nam A, Vũ Thị D, Đỗ Thị T2, Nguyễn Thị T1, Đào Khả M, Nguyễn Thị Y, Mai Trường S cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh óc đĩa thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc là 4.550.000 đồng và một số dụng cụ, T1 sản phục vụ cho việc đánh bạc, trong đó số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 100.000 đồng (thả diều). Bị cáo Nguyễn Thị C đã cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 26/9/2013 với số tiền đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc là 4.550.000 đồng. Mặc dù số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng do bị cáo C đã bị kết án về tội đánh bạc (ngày 23/10/2012 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 42 tháng 28 ngày) chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc (vào ngày 26/9/2013) nên bị cáo phải chịu tình tiết định tội về tội đánh bạc. Việc khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo (theo Nghị quyết số 41/2017/QH ngày 20/6/2017 của Quốc hội).

. Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là tệ nạn xấu trong xã hội và là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ việc đánh bạc dưới hình thức đánh sóc đĩa là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi nên bị cáo đã cùng các đối tượng khác thực hiện hành vi đánh bạc nhằm chiếm đoạt tiền của nhau nên cần phải xử lý nghiêm. Các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo C có số tiền dùng để đánh bạc là 100.000 đồng (thả diều). Nhân thân bị cáo đã bị xét xử về hành vi đánh bạc nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần phân hóa vai trò trên cơ sở xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, số tiền đánh bạc …của bị cáo C và các bị cáo khác (đã được xét xử tại án số 04/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) để quyết định mức hình phạt phù hợp.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

4.1 Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngoài ra, bị cáo là thanh niên xung phong, hiện bị bệnh suy tim độ 3, đái tháo đường nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn (100.000 đồng). Căn cứ điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.

4.2 Tại bản án hình sự sơ thẩm số 263/2012/HSST ngày 23/10/2012 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “đánh bạc”, thời gian thử thách 42 tháng 28 ngày. Đến ngày 26/9/2013 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách nên theo quy định tại khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 263/2012/HSST ngày 23/10/2012 (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2011 đến ngày 13/3/2012 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú) và tổng hợp với hình phạt của bản án mới (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2013 đến ngày 28/10/2013), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

. Về vật chứng: Tang vật vụ án đã được xử lý tại bản án số 04/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nhưng không có đơn đề nghị miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33, khoản 5 Điều 60, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C) phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Mai C): 05 (Năm) tháng tù. Được trừ 01 tháng 02 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 26/9/2013 đến ngày 28/10/2013). Thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại là 03 tháng 28 ngày tù. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù của bản án số 263/2012/HSST ngày 23/10/2012 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, được trừ 02 tháng 18 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 27/12/2011 đến ngày 13/3/2012), thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại của bản án số 236 là 21 tháng 12 ngày tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng: Tang vật vụ án đã được xử lý tại bản án số 04/2014/HSST ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc từ ngày niêm yết) bản án.

Cỡ chữ