- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bảo Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 12-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Căn cứ chính? Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HS-PT Ngày: 06-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh
Các"Thẩm"phán:""Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Ông Nguyễn Hoàng Quí"
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hằng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Sương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06-3-2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 22/2019/TLPT-HS ngày 17-01-2019, đối với bị cáo Nguyễn Bảo Q, do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đối với bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy. "
-"Bị"cáo"có"kháng"cáo":"
Nguyễn Bảo Q sinh ngày 12 tháng 8 năm 1991, tại thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: 162/5A Bùi Văn D, khóm A, phường X, thành phố L, tỉnh An Giang. Nghề nghiệp: Làm thuê, lái xe ôtô; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Lộc và bà: Trương Thị Lệ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người"bị"hại:
1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Tổ 5, khu vực T, phường Đ, quận B, thành phố Cần Thơ.
2. Trần Quang H, sinh ngày 5 tháng 01 năm 1978.
Nơi cư trú: Số 539/20, tổ 6, khu vực F, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bị"đơn"dân"sự:"
1. Đỗ Tấn X, sinh năm 1984."
Nơi cư trú: 1G3 khóm Đông Thành, phường X, thành phố L, tỉnh An Giang.
2. Công ty TNHH TM DV P.
Địa chỉ: Đường số 11 Trung tâm thương mại G, ấp M, xã R, huyện K, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 55 phút, ngày 21-4-2017, Nguyễn Bảo Q điều khiển xe ôtô biển số 67B-005.79, đi trên đường Nguyễn Văn Linh, theo hướng từ quận Ninh Kiều đi tới quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Khi đến đoạn đường thuộc tổ 6, khu vực Thới Thạnh, phường Đ, quận B, thành phố Cần Thơ. Q phát hiện xe môtô biển số 52T3-4060 do Nguyễn Văn N điều khiển, đang ở khoảng giữa đường, phía trước. Do khoảng cách quá gần, Q điều khiển xe lấn qua phần đường bên trái để tránh, nhưng đã va chạm vào xe môtô nói trên, rồi tiếp tục va chạm vào xe môtô biển số 65D1-095.76 do Trần Quang H điều khiển, cũng đang đi bên phần đường ngược chiều. N và H bị ngã xuống lộ. Q đã đưa N và H đến bệnh viện cấp cứu.
Theo Kết luận Giám định pháp y ngày 05-02-2018, thương tích của Nguyễn Văn N như sau:
- Chấn thương đầu mặt, gây rách da ở đuôi cung mày trái, sưng bầm 2 mắt, rách niêm mạc mặt trong môi dưới, gãy xương gò má phải, dạp não vùng thái dương trán phải, đã được điều trị nội khoa. Hiện tại các vết thương đã lành sẹo. xương gò má phải đang cal, nhuyễn não vùng thái dương trán phải, không yếu liệt chi.
- Chấn thương cổ chân phải, gãy hở xương mắt cá trong, gãy xương mắt cá ngoài và trật khớp cổ chân phải, đã được điều trị phẫu thuật cắt lọc, kết hợp xương, nắn chỉnh khớp cổ chân phải, khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau. Hiện tại các vết thương và vết mổ đã lành sẹo, hư khớp biến dạng, cứng khớp, còn dụng cụ kết hợp xương cổ chân phải.
- Chấn thương cẳng chân trái, gãy hở 1/3 giữa 2 xương cẳng chân, gãy xương mắt cá trong, đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương, cắt lọc, kết hợp xương, khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau. Hiện tại vết thương và vết mổ đã lành sẹo, xương đang cal, còn dụng cụ kết hợp xương.
- Vết thương mu bàn tay phải, đã được điều trị, cắt lọc, khâu da. Hiện tại vết thương đã lành, sẹo lớn, không ảnh hưởng chức năng.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68%.
Theo Kết luận Giám định pháp y ngày 05-02-2018, thương tích của Trần Quang H như sau:
- Chấn thương cẳng - cổ tay phải, gãy đầu dưới xương quay phải, đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại vết mổ đã lành sẹo, xương đang cal, còn dụng cụ kết hợp xương, không ảnh hưởng chức năng.
- Chấn thương cánh tay trái, gãy đầu dưới xương cánh tay trái, đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại vết mổ đã lành sẹo, xương đang cal, còn dụng cụ kết hợp xương, hạn chế vận động gấp duỗi khuỷu tay trái.
- Chấn thương cẳng tay trái, gãy 1/3 giữa 1/3 dưới xương trụ và xương quay, đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại vết mổ đã lành sẹo, xương đang cal, còn dụng cụ kết hợp xương, hạn chế vận động khớp cổ tay ít.
- Chấn thương cẳng chân trái, gãy 1/3 dưới xương chày và xương mác, đã điều trị phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại vết mổ đã lành sẹo, xương đang cal, còn dụng cụ kết hợp xương, không ảnh hưởng chức năng.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52%.
Theo Kết luận định giá, thiệt hại cho xe môtô biển số 52T3-4060 là 3.250.000 đồng, cho xe môtô biển số 65D1-095.76 là 14.250.000 đồng.
Q đã bồi thường cho ông N 72.000.000 đồng và cho ông H 7.000.000 đồng.
Tại bản án số 51/2018/HS-ST ngày 15-11-2018, Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Bảo Q 12 tháng tù.
Buộc công ty TNHH TM DV P có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại ông Nguyễn Văn N số tiền 50.000.000 đồng, ông Trần Quang H số tiền 207.525.567 đồng.
Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu thanh toán tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Công nhận bị cáo đã bồi thường cho ông Nguyễn Văn N 72.000.000 đồng và ông Trần Quang H 7.000.000 đồng.
Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy và Công an quận Bình Thủy có trách nhiệm giao trả cho chủ sở hữu các phương tiện giao thông: 01 xe ôtô tải biển số 67B-005.79, 01 xe mô tô biển số 65D1-095.76 và 01 xe mô tô biển số 52T3-4060.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Công ty TNHH TM DV P phải nộp 12.876.278 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 12-12-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ kháng nghị, đề nghị hủy phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 12-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ. Không có ai cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Kiểm sát viên nhận định: Sau khi tuyên bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị về phần trách nhiệm hình sự. Do vậy, phần này của bản án sơ thâm đã có hiệu lực thi hành. Về phần trách nhiệm dân sự: Tòa án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, khi tiến hành xét xử vắng mặt công ty TNHH TM DV P, trong khi đại diện công ty này chưa được tham gia tố tụng trong quá trình điều tra. Thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng không đúng quy định của Pháp luật. Áp dụng Điều 597 Bộ luật Dân sự để giải quyết bồi thường thiệt hại là không đúng pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận Kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 12-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, hủy phần trách nhiệm dân sự của bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, về phần trách nhiệm hình sự, nên Quyết định về phần này của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực thi hành.
Xét kháng nghị về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án:
Trách nhiệm dân sự trong vụ án phát sinh từ hành vi trái pháp luật khi điều khiển xe ôtô (khoản 5 Điều 275 Bộ luật Dân sự). Theo quy định tại Mục 2 Phầm III Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, người phải chịu trách nhiệm bồi thường đầu tiên là chủ phương tiện. Do vậy, phải áp dụng quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự để giải quyết trách nhiệm bồi thường trong vụ án này. Người phải bồi thường là bị đơn dân sự trong vụ án hình sự.
Giữa bị cáo với công ty TNHH TM DV P không có quan hệ hợp đồng lao động. Bị cáo làm thuê cho ông Đỗ Tấn X (là chủ phương tiện). Lệnh vận chuyển có giá trị như lệnh điều động phương tiện, không điều động con người (BL. 113). Áp dụng quy định tại Điều 597 Bộ luật Dân sự để giải quyết bồi thường là không có căn cứ.
Theo lời khai của ông Đỗ Tấn X (là chủ phương tiện): do ông không có đăng ký kinh doanh vận chuyển hành khách nên ông có thỏa thuận với công ty TNHH TM DV P về việc sử dụng pháp nhân của Công ty để lưu thông vận chuyển hành khách. Như vậy là không có thay đổi chủ phương tiện. Theo kết quả sưu tra thì xe ôtô biển số 67B-005.79 vẫn do ông X đứng tên chủ sở hữu (BL. 400). Nếu có tham gia tố tụng thì công ty P cùng là bị đơn dân sự.
Phía công ty P chưa tham gia tố tụng trong quá trình điều tra. Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung và cũng không triệu tập để điều tra, ghi lời khai theo hướng dẫn tại Mục I Phần II Công văn số 121/2003/KHXX ngày 19-9-2003 của Tòa án nhân dân Tối cao. Việc cấp, giao văn bản tố tụng không tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 138 và 140 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự, như vậy, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ để chấp nhận.
Tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, giữa ông Đỗ Tấn X và ông Nguyễn Văn N đã đạt được thỏa thuận về việc tiếp tục bồi thường thiệt hại. Lẽ ra, Tòa án sơ thẩm phải ra Quyết định công nhận thỏa thuận này giữa các đương sự.
Cũng tại phiên tòa sơ thẩm, ông X cam kết thực hiện việc bồi thường theo Quyết định của Tòa án và sẽ đưa tiền cho công ty P để bồi thường cho các bị hại (BL. 456).
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông X cũng cam kết như trên.
Sau phiên tòa sơ thẩm, các bị hại không có kháng cáo, tức là đã đồng ý mức bồi thường như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, giữa các bị hại với ông Đỗ Tấn X cũng đã đạt được thỏa thuận về việc tiếp tục bồi thường. Nên công nhận.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, những bản án, quyết định về bồi thường tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, …được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Cho thấy tính bức bách của việc bồi thường.
Từ quan điểm nói trên, thấy không cần thiết phải hủy án sơ thẩm, chỉ cần sửa án sơ thẩm, mà vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên tham gia tố tụng. Quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa có hiệu lực thi hành ngay, theo quy định tại các Điều 213, 246 và 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần Kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 12-12-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ.
Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590, 601 Bộ luật Dân sự; các Điều 213, 246 và 300 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Công nhận thỏa thuận giữa ông Đỗ Tấn X với các bi hại tại phiên tòa phúc thẩm. Theo đó, ông Đỗ Tấn X có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho các bị hại như sau:
- Ông Nguyễn Văn N: 50.000.000 đồng.
- Ông Trần Quang H: 207.525.567 đồng.
Ông Đỗ Tấn X phải nộp 12.876.278 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
Không ai phải nộp án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự. Nếu chậm thi hành án, người phải thi hành án phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Phần trách nhiệm dân sự của bản án được thi hành theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Cần Thơ; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng quận Bình Thủy; - Bị cáo; - Lưu. " | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Trinh |