vanban.org

Bản án 21/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 31/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 138, Điểm p Khoản 1,2 Điều 46, Điều 33BLHS. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 30(ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2017. Áp dụng: Điều 42BLHS, Điều 99, 231,234 BLTTHS, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Điều 6, Điểm a, c Khoản 1 Điều 23, Điều 21 Nghị Quyết số 3… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Văn Lương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THIỆU HÓA
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21 /2017/HSST
Ngày 31/08 /2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HÓA

-Với thành phần hội đổng xét xử gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quân

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Dũng Tấn

2. Ông Trần Công Lâm Thư ký ghi bên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh - KSV

Ngày 31/08 /2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/HSST ngày 11 tháng 08 năm 2017 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn L - Sinh ngày: 22/05/1986.Nơi ĐKTT: xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Thôn Tuần Lương, xã H, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Trịnh Xuân D (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị L; Có vợ: Thiều Thị L, 01 con sinh năm 2017; Tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 22/03/2006 bị TAND huyện Hoằng hóa xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 16/2006/HSST. Ngày 19/01/2007 nộp xong án phí HSST; Tiền án: Ngày 08/12/2010 bị TAND huyện Bá Thước xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 01/2010/HSST. Ngày 28/12/2010 nộp xong án phí, đến ngày 02/06/2012 chấp hành xong hình phạt; Ngày 23/04/2014 bị TAND Thị xã M, Nghệ An xử phạt 01 năm 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 19/2014/HSST. Ngày 24/04/2014 nộp xong án phí, ngày 25/10/2015 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/ 6/ 2017. Tạm giam ngày 15/06/2017. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ/tạm giam Công an huyện Thiệu Hóa. Người bị hại: 1.Anh Nguyễn Quán Q - Sinh năm 1987 (vắng mặt) Địa chỉ: Tiểu khu 12, Thị trấn V, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Anh Trịnh Văn T – Sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 3, xã K, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14h ngày 30/05/2017 Trịnh Văn L bắt xe buýt từ nhà đến nhà bố vợ ở phố Toàn Tân, thị trấn R, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa lên Bệnh viện đa khoa huyện Thiệu Hóa thăm bạn có con đang ốm. Trịnh Văn L ngồi chơi ở ghế đá của bệnh viện phát hiện có ba chiếc xe máy dựng gần nhau không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L đi lại gần và tiếp cận xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 36R2-0700 của anh Nguyễn Quán Q sinh năm 1978 ở Tiểu khu 12, Thị trấn V, huyện Thiệu Hóa, L luồn tay vào bên trong ổ khóa điện xe của anh Q rút dây điện màu xanh, đạp cần khởi động rồi điều khiển xe qua cổng chính của bệnh viện đi ra Quốc lộ 45 hướng Tp Thanh Hóa, sau đó L gửi xe vào Bệnh viện đa khoa Hàm Rồng ở xã Q, huyện Hoằng Hóa và bắt xe buýt về nhà bố vợ ăn cơm. Đến 23h cùng ngày L quay lại lấy xe vừa trộm cắp được điều khiển đi dọc Quốc lộ 1A, đến gầm cầu chui thuộc địa phận xã Q, huyện Hoằng Hóa, cách cầu Ba Gian khoảng 200m dùng cà lê và tuốc nơ vít tháo biểm kiểm soát xe, gưởng chiếu hậu và giở xe vứt qua đường ray tàu hỏa. Sáng ngày 31/05/2017 khi đang điều khiển xe máy trên đường L gặp anh Trịnh Văn T, sinh năm 1990 ở thôn 3, xã K, huyện Hoằng Hóa, L nói với T xe L đi đã lâu, không có biển số xe, do tối qua đánh bài thua muốn bán trả nợ với số tiền 5.000.000đ (năm triệu), T đồng ý mua và trả giá với giá 4.900.000đ(bốn triệu chín trăm ngàn). Sau sự việc mất xe anh Q trình báo thì cơ quan công an trích xuất camera, biết không thể trốn tránh được nên ngày 09/06/2017 Trịnh Văn L ra cơ quan công an đầu thú khai rõ về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 12/06/2017 anh Trịnh Văn T đã giao nộp lại chiếc xe cho Công an huyện Thiệu Hóa. Ngày 15/06/2017 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Thiệu Hóa kết luận chiếc xe máy Honda Dream BKS 36R2-0700 có giá là 25.500.000đ (hai lăm triệu năm trăm ngàn).

Ngày 19/06/2017 anh Nguyễn Quán Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thêm về mặt dân sự.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Trịnh Văn L khi nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ cơ quan công an đã thu thập được.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 10 tháng 08 năm 2017 của VKS nhân dân huyện Thiệu Hóa truy tố Trịnh Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện VKS nhân dân huyện Thiệu Hóa tại phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng theo Điểm c Khoản 2 Điều 138, Điểm p Khoản 1,2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật Hình sự để xử phạt Trịnh Văn Lượng mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Tại phiên tòa Trịnh Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện VKS. Về phần bồi thường dân sự bị cáo hứa sẽ có trách nhiệm bồi thường cho anh Trịnh Văn T. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để về với gia đình và xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. HĐXX nhận định như sau:

Về phần tố tụng và hành vi tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Thiệu Hóa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật về thời hạn điều tra, truy tố, các biện pháp thu thập chứng cứ, biên bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai của bị cáo, người liên quan, người bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ phản ánh trong hồ sơ vụ án. HĐXX thấy đầy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 14h ngày 30/05 /2017 bị cáo Trịnh Văn L đã có tiền án tái phạm về tội “Trộm cắp tài sản” thực hiện hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe Honda Dream BKS 36R2-0700 ở Bệnh viện đa khoa huyện Thiệu Hóa của anh Trịnh Quán Quyết trị giá 25.500.000đ (hai lăm triệu năm trăm ngàn) mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo trộm cắp tài sản có căn cứ. VKS truy tố bị cáo Trịnh Văn Lượng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c khoản 2 Điều 138 là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự xã hội, làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt bình thường của các bị hại, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy cần có đường lối xử nghiêm nhằm giáo dục và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm hình sự:

Là một người có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng và làm ăn lương thiện, bị cáo nhận thức hành vi trộm cắp tài sản bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi bị cáo vẫn phạm tội. Bị cáo là người có gia đình lẽ ra phải chín chắn làm chổ dựa cho vợ con nhưng vì thiếu trách nhiệm với gia đình, xã hội và chính bản thân bị cáo nên bị cáo vẫn lâm vào con đường phạm tội. Trước vụ án này bị cáo đã có ba lần bị kết án, có hai tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, bản án gần nhất bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 138 BLHS là đúng pháp luật. Vì vậy HĐXX xét thấy cần cách lý bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng nên xem xét áp dụng Điểm p Khoản 1,2 Điều 46 BLHS xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì quá trình phạm tội bị cáo ra đầu thú tại cơ quan pháp luật và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Ngoài hình phạt chính, xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt tiền bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ. Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Trịnh Văn Tiến số tiền 4.900.000đ.

Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 138, Điểm p Khoản 1,2 Điều 46, Điều 33BLHS. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn L 30(ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/06/2017. Áp dụng: Điều 42BLHS, Điều 99, 231,234 BLTTHS, Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự; Điều 6, Điểm a, c Khoản 1 Điều 23, Điều 21 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội. -Công nhận các bị hại đã nhận lại tài sản đầy đủ và không có yêu cầu thêm gì. -Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Trịnh Văn T số tiền 4.900.000đ.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST. 300.000đ án phí DSST.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo điều 6,7 và 9 Luật thi hành án, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người đại có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./ Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ -VKS nhân dân huyện Thiệu Hóa

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa -CA huyện Thiệu Hóa -Bị cáo -Người bị hại-Người có quyền nghĩ vụ liên quan. -Lưu HS vụ án.

Lê Văn Quân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa.

Cỡ chữ