- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Trọng D 02(hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2025.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2025/HS-ST Ngày: 25- 9- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vương Tấn Độ
Bà Lương Thị Kim Nghĩa
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9- Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 84/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Trọng D; sinh năm 19xx, tại: ĐN; Hộ khẩu thường trú: Ấp X xã P, huyện T, tỉnh ĐN (Nay là xã T1, tỉnh ĐN)giới tính: Nam; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn K, sinh năm 19xx và bà Vòng Sấy C, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án : 01. Ngày 30/6/2023, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bản án số 135 ngày 30/6/2023). Chấp hành xong án phạt tù ngày 16/10/2023. Đặng Trọng D đã nộp lại số tiền 1.700.000 đồng thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước, đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Nhân thân: Ngày 28/08/2014, Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, bản án số 272/2014/HSST ngày 28/8/2014. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03/05/2015. Đã đóng án phí 200.000 đồng ngày 06/10/2014. Ngày 09/11/2016, Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 21 tháng, số 357/QĐ ngày 09/11/2016. Chấp hành xong ngày 21/05/2018. Ngày 12/03/2019 Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 21 tháng. Chấp hành xong ngày 17/02/2020. Ngày 07/07/2020 Toà án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh xử Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 21 tháng. Chấp hành xong ngày 13/11/2021. Bị cáo bị bắt ngày 23/4/2025 (Có mặt);
Bị hại:
Ông Lê Văn R, sinh năm 19xx; Trú tại : Số 3X đường L, khu phố X, phường T, quận B, Thành phố H (nay là phường B)(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1/Ông Phan Văn C, sinh năm 19xx; Trú tại: Khu phố X, trị trấn D, huyện D, tỉnh B(nay là xã D ,Thành phố H)(Vắng mặt).
2/Ông Trần Văn T, sinh năm 20xx; Trú tại: Số 3xx đường T, phường B, quận B1, Thành phố H(nay là phường A)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 17/04/2025, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên Đặng Trọng D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. D đi bộ từ nhà, tại địa chỉ 3x đường L, phường T, quận B1, Thành phố H qua nhiều tuyến đường tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ 16 phút cùng ngày khi đến dãy nhà trọ tại số 3x L, phường T, quận B1, thành phố H thì phát hiện phòng trọ số 03 không đóng cửa có dựng 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx, kế bên có một người đàn ông đang nằm ngủ trên võng, tại chỗ ngủ có để 01 điện thoại hiệu Samsung A21. D nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô và điện thoại quan sát xung quanh thấy không có người để ý nên D T tới lấy trộm điện thoại Samsung A21 bỏ vào túi quần, sau đó lấy chìa khóa xe mô tô được móc trên tường gần chỗ dựng xe rồi dắt trộm xe ra ngoài phòng trọ, cắm chìa khóa, khởi động, điều khiển xe tẩu thoát. Sau khi lấy được xe D mở yên xe thì phát hiện trong cốp xe có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy phép lái xe, căn cước công dân của chủ xe nên điều khiển xe Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx để đi cầm. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, D đến tiệm cầm đồ tại địa chỉ 3xx T, phường B, quận B1 cho anh Trần Văn T là nhân viên của tiệm cầm đồ, D có đưa giấy đăng ký xe mang tên Phan Văn Chính và căn cước công dân của D cho T, D nói vợ đang bệnh nên cần tiền gấp nên mới cầm cố xe trên nên T đồng ý cầm cố. T không biết xe trên do trộm cắp mà có nên T cầm với giá 3.000.000 đồng. Sau đó, trưa ngày 19/04/2025 tại quán cà võng gần chung cư N phường T, quận B1, thành phố H, D gặp một người bạn quen ngoài xã hội tên H (không rõ lai lịch) và nhờ H đem cầm giùm 01 điện thoại Samsung A21. Khoảng 30 phút sau thì H đưa cho D 300.000 đồng và nói đây là tiền cầm điện thoại Samsung A21. Đến ngày 17/4/2025 Ông Lê Văn R đến Công an phường Tân Tạo A trình báo vụ việc. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan điều tra thụ lý theo thẩm quyền. Quá trình truy xét, Cơ quan điều tra phát hiện Đặng Trọng D đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Trọng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp lời khai bị hại, camera thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản Kết luận định giá tài sản số 226/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự UBND quận Bình Tân; kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 91G1-058.23, đã qua sử dụng, thời điểm định giá 17/4/2025, kết luận về giá tài sản là 6.500.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A21, đã qua sử dụng, thời điểm định giá 17/4/2025, kết luận về giá tài sản là 1.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 7.500.000 đồng.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ:
- 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển số 9xG1–058xx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.
- 01 USB hiệu Kington, 2GB bên trong có 02 tập tin video.
- Đối với quần short màu xám, áo thun có cổ tay ngắn màu xám, khẩu trang màu xanh, dép không quai màu đen, bị cáo D đã vứt bỏ, không còn lưu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 3293/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận xe mô tô gắn biển số: 9xG1-058xx có số khung: RLHJC5237CY526647, số máy: JC52E-5347092 (số khung, số máy nguyên thủy); qua xác minh xe mô tô trên do Ông Phan Văn C (sinh năm 19xx; nơi thường trú: Ấp X, xã T, huyện B, tỉnh BP) đứng tên chủ sở hữu. (Bút lục số 56-57). Qua làm việc, ông C khai nhận là anh rễ của Ông Lê Văn R và đứng tên chủ sở hữu xe trên giúp ông R khi ông R mua xe vào năm 2012. Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe mô tô, giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông R.
Về dân sự: Bị hại Lê Văn R đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 9xG1-058xx nên không yêu cầu gì thêm. Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A21 yêu cầu bị cáo D bồi thường theo giá trị của kết luận định giá tài sản là 1.000.000 đồng. Bị cáo D chưa bồi thường.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đặng Trọng D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp lời khai nhân chứng, camera thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS. KV9 ngày 14/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đặng Trọng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị xử phạt bị cáo bị cáo Đặng Trọng D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển số 9xG1–058xx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kington, 2GB bên trong có 02 tập tin video ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại tại phiên tòa: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường 1.000.000 đồng trị giá chiếc điện thoại mà bị cáo đã chiếm đoạt, đã trình bày lời khai, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với tang vật đã thu giữ, lời khai của bị hại, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào khoảng 02 giờ 16 phút ngày 17/4/2025, Đặng Trọng D có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx, 01 điện thoại hiệu Samsung A21 tại 3x L, phường T, quận B1 (cũ), thành phố H. Tổng tài sản trộm cắp qua định giá có giá trị 7.500.000 đồng thì bị phát hiện, bắt giữ. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra đã trích xuất dữ liệu camera cho bị cáo nhận dạng và bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đặng Trong D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, cáo trạng số 66/CT-VKS.KV9 ngày 14/8/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của bị hại, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx, 01 điện thoại hiệu Samsung A21 của anh Lê Văn R một cách rất táo bạo và liều lĩnh, qua đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo sẵn sàng phạm tội chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bất chấp hậu quả xảy ra. Nên việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn R đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx, đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A21 ông có yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho ông theo kết luận định giá 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Đây là sự thỏa thuận mang tính tự nguyện giữa bị cáo và bị hại nên Hội đồng xét xử xét ghi nhận.
Đối với ông Trần Văn T không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền mà bị cáo đã cầm chiếc xe Honda Wave RSX biển số 9xG1-058xx nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô Honda Wave RSX biển số 9xG1–058xx, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả xe là phù hợp với qui định của pháp luật nên không xem xét giải quyết lại.
Đối với 01 USB hiệu Kington, 2GB bên trong có 02 tập tin video ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là chứng cứ vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu lưu hồ sơ vụ án.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh bị cáo nên miễn phạt bổ sung.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đặng Trọng D 02(hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2025.
2. Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 46; Điều 47; Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kington, 2GB bên trong có 02 tập tin video ghi lại hình ảnh bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho Ông Lê Văn R số tiền 1.000.000 VNĐ ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015;
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường số tiền nêu trên thì bị cáo phải chịu thêm khoản tiền lãi, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
4. Về án phí : Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng, và án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (Ba trăm ngàn đồng) nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND TPHCM; - VKSND KV9; - Phòng THADS KV 9 – TPHCM; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PV06 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu, HS, VP; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tín Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Tín |