vanban.org

Bản án 209/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 30/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Kiều Xuân D, Phạm Viết H, Nguyễn Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm. II. Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo: Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Xuân D - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2019/HS-PT
Ngày: 30-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tồn

Các thẩm phán:

Ông Trần Minh Tuấn

Ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thành Thủy , Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân , Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 90/2019/TLPT-HS ngày 01 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo Kiều Xuân D và các bị cáo khác về tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HSST ngày 23 - 11 -2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.- Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Kiều Xuân D, sinh năm 1976 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn E, xã C2, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Thợ rèn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Kiều Quang Th (Kiều Văn Th) và bà Trần Thị N; có vợ là Trịnh Thị H3 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 30/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện K xử phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2018 đến ngày 08/7/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Viết H, sinh năm 1972 tại tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn N1, xã C3, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Viết B và bà Hoàng Thị X (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H4 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 1999 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, tuy nhiên trong giai đoạn truy tố do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố nên Viện kiểm sát nhân dân huyện K quyết định đình chỉ vụ án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/HSST ngày 01/02/2000 của Tòa án nhân dân huyện K xử phạt bị cáo Phạm Viết H 7 tháng 27 ngày tù về tội “Cướp tài sản công dân”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 19/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng T, sinh năm 1976 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Buôn E1, xã C4, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Trọng B1 và bà Chu Thị Ch (đều đã chết); có vợ là Trịnh Thị M và 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2002;

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 28/4/2016 bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quyết định số 43/QĐ-XPVPHC với số tiền 1.500.000 đồng (do chưa nộp phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 19/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 11 bị cáo và 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 09/4/2018, Kiều Xuân D chuẩn bị chiếu, chén, đĩa, con vị, sử dụng camera, màn hình để quan sát tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng rồi tổ chức cho nhiều người đánh bạc tại nhà của vợ chồng mình ở thôn E, xã C2, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và đã thu được 1.200.000 đồng tiền xâu. Nhằm thu hút người chơi đánh bạc tham gia, D đã bố trí thêm 01 bàn Senko rồi nhờ Nguyễn Đức T1 trông coi và quản lý bàn Senko, nếu có thu nhập từ việc tổ chức đánh bạc D sẽ trả cho T1 một khoản tiền tùy thuộc vào việc D thu lợi được nhiều hay ít. Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị đánh bạc thì Quách H1 là người tàn tật đến xem và thấy không có ai cầm xóc cái nên H1 xin những con bạc cho xóc cái giúp họ và sau khi kết thúc việc đánh bạc ai thắng sẽ cho H1 một khoản tiền.

Hình thức đánh bạc xóc đĩa được phân chia thành 02 bên chẵn, lẻ và quy ước bên tay phải của người xóc cái là chẵn, bên tay trái là lẻ. Vật dụng được sử dụng để đánh xóc dĩa gồm chiếu, chén, đĩa, 04 con vị hình tròn được cắt từ lá bài Tây và quy định mặt lưng của lá bài là mặt đen, còn lại là mặt trắng. 04 con vị được để trong 01 cái đĩa được đậy bằng 01 cái chén để xác định kết quả là chẵn hay lẻ. Kết quả chẵn khi 04 con vị xuất hiện 04 mặt trắng, 04 mặt đen, 02 mặt trắng hoặc 02 mặt đen. Kết quả lẻ khi 04 con vị xuất hiện 01 mặt trắng, 01 mặt đen, 03 mặt trắng hoặc 03 mặt đen. Sau khi người xóc cái, xóc xong thì người chơi có quyền lựa chọn đặt tiền bên chẵn hay lẻ tùy ý. Nếu kết quả bên chẵn thắng thì người xóc cái lấy tiền bên lẻ thanh toán cho bên chẵn và ngược lại (tỉ lệ thắng thua là 1-1). Trong trường hợp nếu người xóc cái nói lẻ thừa hoặc chẵn thừa thì người đánh có quyền nhận mở chén và chịu trách nhiệm thắng thu với số tiền thừa. Còn hình thức đánh Senko là sử dụng 04 con bài Tây gồm 01 lá ba rô, 01 lá bốn rô, 01 lá ba chuồn, 01 lá bốn chuồn, nước rô được quy ước là mặt trắng, nước chuồn được quy ước là mặt đen. Căn cứ vào kết quả xóc đĩa nếu người đánh đặt cược 03 mặt trắng hoặc 03 mặt đen sẽ thắng được số tiền gấp 2,5 lần tiền gốc; nếu 04 mặt trắng hoặc 04 mặt đen thì người thắng cược sẽ nhận được số tiền gấp 09 lần tiền gốc, nếu thua chỉ mất số tiền đặt cược ban đầu. Người chơi có quyền lựa chọn một trong hai hình thức chẵn lẻ hoặc Senko để đặt cược và có thể tham gia hai hình thức cùng một lúc.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/4/2018, trong lúc D đang tổ chức cho Mai Xuân K, Trần Ngọc Q, Nguyễn Đăng T2, Huỳnh Kim T3, Quách H1, Hoàng Văn C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H, Lê Quang Đ, Phạm Đức H2 và Lê Thành V đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc 50.500.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm ngàn đồng). Thu giữ trên người Phạm Viết H 16.000.000 đồng; Nguyễn Đăng T2 18.000.000 đồng; Huỳnh Kim T3 9.000.000 đồng; Nguyễn Văn C1 50.000 đồng; Trần Ngọc Q 275.000 đồng; Nguyễn Trọng T 100.000 đồng; Hoàng Văn San 400.000 đồng; Ngô Văn Hiệp 250.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc chiếu; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 con vị được cắt ra từ lá bài Tây; 04 lá bài Tây (trong đó có 01 lá ba chuồn, 01 lá bốn chuồn, 01 lá ba rô và 01 lá bốn rô).

Quá trình điều tra xác định được:

- Hoàng Văn C mang theo 1.100.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại sử dụng hết và việc đánh chẵn lẻ và thua hết.

- Nguyễn Trọng T mang theo 400.000 đồng, chỉ sử dụng vào mục đích đánh chẵn lẻ 300.000 đồng và thua hết. Còn lại 100.000 đồng T1 không dùng vào việc đánh bạc mà giữ lại để đi về nhà.

- Nguyễn Văn C1 mang theo 1.300.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại sử dụng vào mục đích đánh chẵn lẻ. Khi bị bắt quả tang thu 1.050.000 đồng, còn lại 50.000 đồng.

- Huỳnh Kim T3 mang theo 11.000.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại sử dụng vào mục đích đánh bạc chẵn lẻ. Khi bị bắt quả tang thua 1.800.000 đồng, còn lại 9.000.000 đồng.

- Lê Quang Đ mang theo 5.000.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại sử dụng vào mục đích đánh bạc chẵn lẻ. Khi bị bắt thua 1.200.000 đồng, số tiền 3.600.000 đồng đã bị rơi khi bị bắt quả tang.

- Mai Xuân K mang theo 250.000 đồng để tham gia đánh bạc chẵn lẻ. Thua 200.000 đồng, còn lại 50.000 đồng làm rơi khi bị bắt quả tang.

- Trần Ngọc Q mang theo 375.000 đồng, chỉ sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc chẵn lẻ và bị thua nên nghỉ không đánh nữa. Còn 275.000 đồng để lại sử dụng việc cá nhân.

- Nguyễn Đăng T2 mang theo 18.400.000 đồng, trong đó có 18.000.000 đồng là do anh Nguyễn Đăng Tú gửi nên Tuyên không sử dụng đánh bạc. Tuyên chỉ sử dụng 400.000 đồng của mình để đánh bạc chẵn lẻ và thua hết số tiền này.

- Phạm Đức H2 mang theo 25.000.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại sử dụng vào việc đánh chẵn lẻ. Khi bị bắt quả tang thua 14.000.000 đồng, số còn lại đã làm rơi.

- Phạm Viết H mang theo 11.000.000 đồng để sử dụng vào việc đánh chẵn lẽ, khi bị bắt quả tang thắng được 5.000.000 đồng.

- Lê Thành Vinh mang theo 1.000.000 đồng, đóng tiền xâu cho D 200.000 đồng, số còn lại dùng đánh chẵn lẻ và thua hết.

Với nội dung nêu trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018/HSST ngày 23 - 11 -2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo: Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Tuyên xử:

1. Áp dụng điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kiều Xuân D 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2018 đến ngày 08/7/2018.

2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngay 19/4/2018.

3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Viết H 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 19/4/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần hình phạt đối với 11 bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong thời hạn quy định của pháp luật, các bị cáo Kiều Xuân D, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa các bị cáo Kiều Xuân D, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H đã khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo và thừa nhận bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điều 231 Bộ luật Hình sự là đúng tội, chỉ xin xem xét được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào tối ngày 09/4/2018, tại nhà của bị cáo Kiều Xuân D, D đã chuẩn bị chiếu, chén, đĩa, con vị, sử dụng camera, màn hình để quan sát tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng rồi nhờ bị cáo Nguyễn Đức T1 trông coi bàn SenKo, để tổ chức cho Mai Xuân K, Trần Ngọc Q, Nguyễn Đăng T2, Huỳnh Kim T3, Quách H1, Hoàng Văn C, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H, Lê Quang Đ, Phạm Đức H2, Lê Thành V đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa và đặt cược tại bàn SenKo thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 50.500.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm ngàn đồng) và trên người các con bạc tổng số tiền 43.750.000 đồng. Trong đó xác định được Phạm Viết H mang theo 11.000.000 đồng để sử dụng vào việc đánh chẵn lẽ, khi bị bắt quả tang thắng được 5.000.000 đồng. Nguyễn Trọng T mang theo 400.000 đồng, chỉ sử dụng vào mục đích đánh chẵn lẻ 300.000 đồng và thua hết. Còn lại 100.000 đồng T không dùng vào việc đánh bạc mà giữ lại để đi về nhà. Quá trình tổ chức đánh bạc Kiều Xuân D thu lợi bất chính số tiền 2.200.000 đồng.

Với nội dung trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/2018 ngày 23/11/2018. Của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử bị cáo Kiều Xuân D về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Phạm Viết H, Nguyễn Trọng T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo của các bị cáo Kiều Xuân D, Phạm Viết H, Nguyễn Trọng T thì thấy: Bị cáo Kiều Xuân D đã sử dụng địa điểm là nhà ở thuộc quyền quản lý của bị cáo tổ chức cho hơn 10 người đánh bạc với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc trên 20 triệu đồng. Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác với tổng số thu tại chiếu bạc là 50.500.000 đồng (năm mươi triệu năm trăm ngàn đồng) và thu giữ trên người các bị cáo là 43.750.000 đồng. Trong đó xác định được Phạm Viết H mang theo 11.000.000 đồng để sử dụng vào việc đánh chẵn lẽ, khi bị bắt quả tang thắng được 5.000.000 đồng; Nguyễn Trọng T mang theo 400.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh chẵn lẻ 300.000 đồng và thua hết. Hành vi của các bị cáo Kiều Xuân D, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo D năm 2014 đã bị xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; bị cáo Phạm Viết H đã từng bị xét xử về tội “Cướp tài sản công dân”; Bị cáo Nguyễn Trọng T năm 2016 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, hơn nữa số tiền các bị cáo tổ chức đánh bạc lớn. Do đó đối với các bị cáo cần xử phạt nghiêm, cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Mức án mà cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Kiều Xuân D, Phạm Viết H, Nguyễn Trọng T là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng các bị cáo có nhân thân xấu, không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát.

Trong vụ án này còn có các bị cáo: Hoàng Văn C, Nguyễn Đăng T2, Huỳnh Kim T3 và Quách H1 Là những người có nhân thân xấu dù đã được xóa án tích và hết thời hạn xử lý hành chính, nhưng lần phạm tội này bị truy tố và xét xử theo điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS có khung hình phạt từ 3-7 năm tù, thuộc trường hợp nghiêm trọng nhưng cấp sơ thẩm áp dụng Điều 65 BLHS cho hưởng án treo là trái với khoản 2 Điều 2; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP. Mặt khác, theo biên bản họp liên ngành ngày 2/5/2018 xác định đây là vụ án điểm cần xử phạt nghiêm đúng pháp luật phòng ngừa chung. Vì vậy HĐXX cấp phúc thẩm kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo trình tự giám đốc theo hướng không cho các bị cáo hưởng án treo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí HSPT theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Kiều Xuân D, Phạm Viết H, Nguyễn Trọng T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

II. Tuyên bố: Bị cáo Kiều Xuân D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo: Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H phạm tội “Đánh bạc”.

2.1 Áp dụng điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Kiều Xuân D 02 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2018 đến ngày 08/7/2018.

2.2 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngay 19/4/2018.

2.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Viết H 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 19/4/2018.

III. Về án phí: Các bị cáo Kiều Xuân D, Nguyễn Trọng T, Phạm Viết H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT

IV. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ