- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc và gá bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 121/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 208/2019/HSPT Ngày: 14-3-2019 |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
N ỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Việt Toàn
- Các Thẩm phán: Ông Phan Huy Cương, ông Vũ Quang Huy
- Thư ký phiên toà: Bà Vương Thị Vân Anh-Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:
Bà Phạm Thị Liễu, Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 869/2018/TLPT-HS ngày 17 tháng 12 năm 2018 đối với các bị cáo Bùi Văn T, Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S, do có kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2018/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên Bùi Văn T, sinh năm 1985; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu Bùi Xá, thị trấn XM, huyện CM, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Là Đảng viên ĐCSVN, ngày 25/7/2018 Huyện ủy Chương Mỹ đã có quyết định số 2619 - QĐ/HU xóa tên Đảng viên đối với Bùi Văn T; con ông Bùi Văn Gần và bà Nguyễn Thị Lưu; có vợ là Hoàng Thị Vân; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
2. Họ và tên Hoàng Văn S, sinh năm: 1998; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu Đồng Vai, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn Phong và bà Nguyễn Thị Khoa; có vợ là Trịnh Ngọc Mai; có 01 con sinh năm 2017; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/07/2018 đến ngày 21/07/2018 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt.
Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
3. Họ và tên Nguyễn Văn B, sinh năm 1990; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu Bùi Xá, thị trấn XM, huyện CM, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Huấn và bà Hoàng Thị Ngọc; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 21/01/2018 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
4. Họ và tên Hoàng Văn T, sinh năm 1997; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu Đồng Vai, thị trấn XM, huyện CM, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn Sứng (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 26/01/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn; Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 07 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/01/2018 gia đình ông Bùi Văn Gần ở khu Bùi Xá, thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ cưới con trai là Bùi Văn Hai, nên tối ngày 17/01/2018 một số người đến làm giúp đám cưới. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày sau khi một số người làm giúp xong thì Bùi Văn T (con đẻ ông Gần) rủ Nguyễn Văn Bảo, Hoàng Mạnh Tưởng, Bùi Văn Ngát, Hoàng Văn T về nhà T để “Đánh bạc” hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền và mọi người đồng ý. Sau đó Bảo, Tưởng, Ngát, T đi lên tầng 2 nhà T đánh bạc. Khi lên tầng 2 đã có sẵn bát, đĩa, quân vị ở dưới chiếu, sau đó T đứng ra nhận xóc cái và quy định bên tay phải người xóc cái là mặt chẵn, bên tay trái là mặt lẻ. Mọi người đặt tiền xuống, quy định cửa thấp nhất là 10.000 đồng, đặt cao nhất thì tùy các con bạc, nếu mở bát, về mặt lẻ hay mặt chẵn thì người đặt tiền vào cửa lẻ sẽ thắng, còn người đặt cửa chẵn sẽ thua và ngược lại, trong lúc đang chơi có Nguyễn Văn Hướng, Hoàng Văn Đại, Đỗ Ngọc Thắng, Nguyễn Văn Huân và Nguyễn Văn B, Hoàng Văn Thực, Hoàng Văn S vào cùng tham gia đánh bạc. Khi Bùi Văn T, Nguyễn Văn Bảo, Hoàng Mạnh Tưởng, Bùi Văn Ngát, Hoàng Văn T, Nguyễn Văn Hướng, Hoàng Văn Đại, Đỗ Ngọc Thắng, Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Văn B, Hoàng Văn Thực và Hoàng Văn S “Đánh bạc” đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Công an thị trấn Xuân Mai phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật và đưa về Công an thị trấn Xuân Mai làm việc rồi chuyển hồ sơ đến Công an huyện Chương Mỹ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tang vật thu giữ:
01 bộ bát đĩa sứ; 04 quân vị hình tròn (cắt từ quân chắn); 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi nhựa màu xanh; 01chiếc chiếu cói cũ đã qua sử dụng.
Tiền thu dưới chiếu là: 6.020.000 đồng; Tiền thu trên người các đối tượng là 10.250.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ là 16.270.000 đồng.
Quá trình bắt giữ thì Bùi Văn T, Nguyễn Văn Hướng và Hoàng Văn S đã bỏ chạy thoát. Ngày 21/01/2018, Bùi Văn T đến Công an huyện Chương Mỹ đầu thú. CQĐT Công an huyện Chương Mỹ đã ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn Hướng và Hoàng Văn S. Ngày 19/7/2018 Hoàng Văn S đến Công an huyện Chương Mỹ đầu thú.
Quá trình điều tra đã xác định rõ:
Bùi Văn T (chủ nhà) khai: T là người khởi xướng rủ mọi người đánh bạc, T trực tiếp xóc cái và tham gia đánh bạc, T có 700.000 đồng; Nguyễn Văn B khi tham gia đánh bạc có 2.300.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn T khi tham gia đánh bạc có 1.700.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn Huân có tổng số 3.600.000 đồng trong người, nhưng Huân chỉ bỏ ra 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc còn lại 3.100.000 đồng Huân vẫn để trong người không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn Đại khai có tổng số 3.450.000 đồng trong người nhưng Đại chỉ bỏ ra 500.000 đồng để đánh bạc còn lại 2.950.000 đồng Đại vẫn để trong người Đại không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Hoàng Mạnh Tưởng khi tham gia đánh bạc có 1.100.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn Bảo khi tham gia đánh bạc có 920.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Đỗ Ngọc Thắng khi tham gia đánh bạc có 700.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn Thực khi tham gia đánh bạc có 600.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Bùi Văn Ngát khi tham gia đánh bạc có 330.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Hoàng Văn S khi tham gia đánh bạc có 150.000 đồng và sử dụng hết vào mục đích đánh bạc.
Đối với Nguyễn Văn Huân bị thu giữ trong người là 3.100.000 đồng, Hoàng Văn Đại số tiền thu giữ trong người là 2.950.000 đồng. Quá trình điều tra xác định là tiền của vợ Huân gửi Huân để trả tiền hàng, là tiền của vợ Đại đưa Đại để mua nồi cơm điện cho gia đình sử dụng. Ngày 30/3/2018 CQĐT Công an huyện Chương Mỹ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho vợ Huân, vợ Đại số tiền trên.
Đối với bị can Nguyễn Văn Hướng, CQĐT Công an huyện Chương Mỹ tiếp tục truy bắt đến khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 55 Bộ luật hình sự đối với Bùi Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T và Hoàng Văn S; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS đối với Hoàng Văn S.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Đánh bạc” và “Gá bạc”
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt:
- Bùi Văn T 08 (tám) tháng tù về tội “Gá bạc” và 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 21/01/2018.
- Hoàng Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/01/2018 đến ngày 26/01/2018.
- Hoàng Văn S 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/7/2018 đến ngày 21/7/2018
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của 07 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 10 năm 2018, bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, bị cáo Nguyễn Văn B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 15 tháng 10 năm 2018, bị cáo Bùi Văn T, Hoàng Văn S kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 26 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội kháng nghị đề nghị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm đối với Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, cho hai bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
-Về hình thức: Kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát trong hạn luật định là hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
-Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn T về tội “Đánh bạc” và “Gá Bạc” theo khoản 1 Điều 321 và điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; xét xử bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát, thấy:
Bị cáo Bùi Văn T phạm hai tội “Đánh bạc” và “Gá bạc” không đủ điều kiện để hưởng án treo, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo T 08 tháng tù về tội “Gá bạc”, 4 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T.
Bị cáo Hoàng Văn S sau khi phạm tội bỏ trốn, theo khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn, bị cáo S không đủ điều kiện hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo S, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo S.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T: Hai bị cáo đánh bạc với số tiền không lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có căn cứ chấp nhậnkháng cáo của Hoàng Văn T, Nguyễn Văn B, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng; giao hai bị cáo cho Uỷ ban nhân dân nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát trong hạn luật định là hợp lệ, nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 17/01/2018 bị cáo T đã dùng nhà ở của mình cho 10 đối tượng đến đánh bạc được thua bằng tiền, với hình thức xóc đĩa, bị cáo T là người trực tiếp xóc cái cho các đối tượng khác chơi, khi chơi T có 700.000 đồng; B có 2.300.000 đồng, T có 1.700.000 đồng, Huân bỏ ra 500.000 đồng, Đại bỏ ra 500.000 đồng, Tưởng có 1.100.000 đồng, Bảo có 920.000 đồng, Thắng có 700.000 đồng, Thực có 600.000 đồng, Ngát có 330.000 đồng và S có 150.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên các bị cáo dùng vào việc đánh bạc. Trong lúc các đối tượng đang sát phạt nhau thì bị lực lượng công an thị trấn Xuân Mai bắt quả thu giữ 01 bộ bát đĩa sứ; 04 quân vị hình tròn (cắt từ quân chắn); 01 chiếc kéo bằng kim loại, chuôi nhựa màu xanh; 01 chiếc chiếu cói cũ đã qua sử dụng. Tiền thu dưới chiếu là: 6.020.000 đồng; Tiền thu trên người các đối tượng là 10.250.000 đồng. Tổng số tiền thu giữ là 16.270.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét kháng cáo của các bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi của các các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu trong nhân dân.
Bị cáo Bùi Văn T: Dùng nhà của mình cho 10 đối tượng đến đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức xóc đĩa, bị cáo trực tiếp xóc cái cho các đối tượng chơi, tổng số tiền thu trên chiếu bạc là 6.020.000đ, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” và tội “Gá bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo T có vai trò chính trong vụ án, là người khởi xướng và dùng nhà ở của mình làm nơi tổ chức cho các đối tượng đánh bạc, trực tiếp chơi bạc, sau khi phạm tội trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho cơ quan tố tụng; bị cáo phạm cùng một lúc hai tội, không đủ điều kiện được hưởng án treo; Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo như: Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, có thời gian tham gia quân ngũ được tặng thưởng Giấy khen; bố bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng nhiều huân huy chương; đã xử phạt bị cáo T 08 tháng tù về tội “Gá bạc”, 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T cũng không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ nào làm căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T.
Đối với bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Văn B: Đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa tại nhà bị cáo Bùi Văn T. Bị cáo Nguyễn Văn B tham gia đánh bạc có 2.300.000đ, bị cáo Hoàng Văn T khi tham gia đánh bạc có 1.700.000đ; Toà án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự xét xử hai bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt tù hai bị cáo là có phần nghiêm khắc, bị cáo T và B có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội là có căn cứ; do vậy chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân tối cao hướng dẫn về án treo, xét cho hai bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bị Hoàng Văn S: Tham gia đánh bạc tại nhà bị cáo Bùi Văn T cùng với 10 bị cáo khác, với số tiền 150.000đ, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; sau khi phạm tội bị cáo Hoàng Văn S đã bỏ trốn, tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo S đánh bạc với số tiền ít nhất trong số các bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, xét cho bị cáo S được cải tạo ngoài xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] . Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Bùi Văn T không được chấp nhận kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] . Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an huyện Chương Mỹ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên, Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thẩm phán: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 45,299,326,345; điểm a,b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 121/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Đánh bạc”, “Gá bạc”
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s,v khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 08 (tám) tháng tù về tội “Gá bạc”, 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt cho cả hai tội là 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S; chấp nhận kháng nghị số 28 ngày 26/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đối với bị cáo B và T, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm số 121/2018/HSST ngày 03/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 54 (S); Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Hoàng Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt Hoàng Văn S 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn B, Hoàng Văn T, Hoàng Văn S không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -Theo điều 262 BLTTHS | n Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trương Việt Toàn |