- Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - Vũ Hồng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 207/2018/HSST Ngày: 24/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lân
2. Bà Đặng Thị Nhác
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Vân – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 221/2018/HSST ngày 02/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2018/QĐ-HSST ngày 05/7/2018 đối với bị cáo:
VŨ HỒNG P, sinh năm: 1975; HKTT và chỗ ở: Tổ 13 phường Đ, quận Long Biên, TP. Hà Nội; Dân tộc: Kinh. Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 6/12; Con ông: Vũ Tuấn K, con bà: Nguyễn Thị Y, vợ Nguyễn Thu H (c) có 01 (Một) con sinh năm 1998, gia đình có 02 (Hai) anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Theo danh bản, chỉ bản số 289 lập ngày 22/4/2018 do Công an quận Long Biên, TP. Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 04 (Bốn) tiền sự, 04 (Bốn) tiền án:
- Tiền sự: Từ năm 1995 đến năm 2002 có 04 (Bốn) tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản, đi cơ sở giáo dục.
- Tiền án: 04 (Bốn) tiền án (Đã được xóa án tích):
+ Án số 271/HSST ngày 18/9/1995, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Hạn tù tính từ ngày 02/6/1995, bị án ra trại ngày 02/6/1996;
+ Án số 13/HSST ngày 13/02/2003 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hạn tù tính từ ngày 12/11/2002, bị án ra trại ngày 12/11/2003;
+ Án số 263/HSST ngày 20/12/2007 Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội xử phạt 31 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 10/10/2007, bị án ra trại ngày 10/02/2010. (Đã nộp án phí ngày 05/3/2008);
+ Án số 131/HSST ngày 21/12/2010 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 11/9/2010, bị án ra trại ngày 11/12/2013. (Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm không thụ lý hồ sơ trên nên không xác minh được về phần nộp án phí).
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/4/2018 (Có mặt).
Bị hại: Công ty CP X
Trụ sở: Số nhà 24, ngõ 175/5/155 phố Đ1, phường Đ2, quận H1, TP. Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T – Giám đốc. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D – Sinh năm: 1972, địa chỉ: Thôn D1, xã M, huyện Đ, TP. Hà Nội. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 03h30’ ngày 18/11/2017, Công an phường Giang Biên, quận Long Biên, TP. Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn đê Vàng, phường Giang Biên, quận Long Biên, TP. Hà Nội, phát hiện 02 (Hai) đối tượng là nam giới đi trên 01 (Một) chiếc xe máy, kéo theo sau là 01 (Một) chiếc xe bò có chở sắt xoắn xây dựng. Thấy có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành dừng xe của 02 (Hai) đối tượng trên để kiểm tra hành chính. Khi người ngồi sau vừa bước xuống xe thì người đàn ông điều khiển xe đã tăng ga bỏ chạy về hướng Cầu Đuống. Tổ công tác đã giữ người đàn ông ngồi phía sau xe và chiếc xe bò chở sắt xoắn. Tại chỗ người này khai tên là Vũ Hoàng A - SN: 1976, HKTT: Số 8 P1, phường P1, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội. Theo Hoàng A thì người điều khiển xe máy tên là Vũ Hồng P – Sinh năm: 1975, Trú tại: Số 14, tổ 13 phường Đ, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Số sắt trên xe bò là do Hoàng A cùng P vừa trộm cắp được tại Công trình xây dựng ở Tổ 18 phường Giang Biên, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Tổ công tác tiến hành lập biên bản đưa Hoàng A cùng tang vật về trụ sở công an để làm rõ.
Tang vật thu giữ gồm:
+ 01 (Một) xe bò bằng sắt.
+ 16 (Mười sáu) thanh sắt xoắn Hòa Phát phi 12 dài 11,7m.
+ 12 (Mười hai) thanh sắt xoắn Hòa Phát phi 12 dài 3,5m bẻ vuông góc hai đầu.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 149/KL-HĐ ngày 26/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên đã xác định: 16 (Mười sáu) thanh sắt xoắn Hòa Phát phi 12 dài 11,7m trọng lượng 147kg trị giá 2.058.000 đồng (Hai triệu không trăm năm tám nghìn đồng); 12 (Mười hai) thanh sắt xoắn Hòa Phát phi 12 dài 3,5m, bẻ vuông góc hai đầu trọng lượng 35 kg trị giá 490.000 đồng (Bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là 2.548.000 đồng (Hai triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Căn cứ lời khai của Vũ Hoàng A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã nhiều lần triệu tập Vũ Hồng P lên làm việc nhưng P đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã quyết định tách phần tài liệu liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của P đề điều tra, làm rõ sau.
Ngày 06/3/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Vũ Hoàng A 10 (Mười) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản và quyết định xử lý vật chứng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe bò sắt là phương tiện phạm tội.
Ngày 22/4/2018, Vũ Hồng P đến cơ quan điều tra – Công an quận Long Biên đầu thú. Tại cơ quan điều tra, Vũ Hồng P khai nhận:
Khoảng 01h ngày 18/11/2017, P đi từ nhà ở tổ 13 phường Đ, quận Long Biên, TP. Hà Nội lên cửa hàng mua bán phế liệu của anh Nguyễn Văn D – Sinh năm: 1972, HKTT: Thôn D1, xã M, huyện Đ, TP. Hà Nội, mượn xe máy nhãn hiệu Enzo không biển kiểm soát của anh. Sau đó, P điều khiển xe máy đi đón Vũ Hoàng A – Sinh năm: 1976, HKTT: Số 8 P1, phường P1, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội tại nhà trọ ở khu vực thôn Kim Quan, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội. Trên đường đi, P phát hiện 01 (Một) chiếc xe bò để ở ven đường không rõ chủ sở hữu nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. P dừng xe máy rồi kéo theo chiếc xe bò tới nhà trọ của Vũ Hoàng A. Tại đây, P rủ Hoàng A đi trộm cắp tài sản, Hoàng A đồng ý. Sau đó, P điều khiển xe máy, Hoàng A ngồi sau kéo theo chiếc xe bò đến khu vực tổ 18 phường Giang Biên, quận Long Biên. Quan sát thấy có 02 (Hai) đống sắt bên ngoài công trình xây dựng không có người trông giữ, P và Hoàng A dừng xe, bê toàn bộ số sắt trên để lên xe bò rồi tiếp tục đi về khu vực Cầu Đuống. Khi đi đến gần Cầu Đuống thì hai đối tượng bị tổ công tác công an phường Giang Biên yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Ngay sau khi Hoàng A xuống xe, P đã dùng tay trái gạt móc của xe máy để kéo theo xe bò ra rồi phóng xe máy bỏ chạy về hướng Đông Anh. Sau đó, P về nhà anh D để trả xe máy rồi bắt xe buýt về nhà. Khi cơ quan điều tra triệu tập, P đã bỏ trốn khỏi địa phương do lo sợ hành vi trộm cắp tài sản bị xử lý.
Lời khai của P phù hợp với lời khai của Vũ Hoàng A, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Xác minh nguồn gốc chiếc xe máy Enzo không có biển kiểm soát Vũ Hồng P dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản: P khai mượn xe trên của anh Nguyễn Văn D. Tại cơ quan cảnh sát điều tra, anh D khai khoảng năm 2008 anh mua chiếc xe trên của một người không quen biết để chở phế liệu. Ngày 18/11/2017, P đến mượn xe của anh, khi cho P mượn xe anh D không biết P sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản. Sau khi P trả lại xe, anh D đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết để nấu phế liệu. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên không có căn cứ để xử lý đối với anh Nguyễn Văn D.
Tại bản cáo trạng số 213/CT-VKS-LB ngày 21/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Vũ Hồng P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Vũ Hồng P đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng pháp luật là khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 vì thời điểm phạm tội là 18/11/2017 và so sánh khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là không có lợi cho bị cáo nên Viện kiểm sát thay đổi truy tố bị án từ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sang khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015. Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo P mức án từ 12 đến 15 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về dân sự: Số thanh sắt xoắn Hòa Phát là của Công ty Cổ phần X. Ngày 18/11/2017, anh Trần Văn T - Sinh năm: 1983, HKTT: Phòng 27, CT10, TT K1, quận Đ2, TP. Hà Nội là Giám đốc công ty đã có đơn trình báo đến Cơ quan Công an. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Công ty cổ phần xây dựng công nghiệp và dân dụng Hà Nội, được đại diện bởi anh Trần Văn T toàn bộ số tài sản đã tạm giữ (gồm 28 (Hai mươi tám) thanh sắt xoắn Hòa Phát các loại, có tổng trọng lượng: 182 kg). Anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác về dân sự.
Bị cáo Vũ Hồng P trình bầy lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã ăn năn hối hận và mong muốn được sự khoan hồng để có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 03h30’ ngày 18/11/2017, Vũ Hồng P có hành vi lén lút trộm cắp 28 (Hai mươi tám) thanh sắt xoắn Hòa Phát các loại có tổng trọng lượng là 182 kg của Công ty CP X tại khu tái định cư thuộc Tổ 18 phường Giang Biên, quận Long Biên, TP. Hà Nội. Giá trị tài sản bị xâm hại là 2.548.000 đồng (Hai triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn đồng).
Hành vi lén lút trộm cắp 28 (Hai mươi tám) thanh sắt xoắn Hòa Phát trị giá 2.548.000 đồng của bị cáo Vũ Hồng P ngày 18/11/2017 nêu trên đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999. Do đó, tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” và đề xuất áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự 1999 xét xử bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.
Về nhân thân: Theo danh bản, chỉ bản số 289 lập ngày 22/4/2018 do Công an quận Long Biên, TP. Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo có 04 (Bốn) tiền sự, 04 (Bốn) tiền án. Tiền sự: Từ năm 1995 đến năm 2002 có 04 TS về hành vi trộm cắp tài sản, đi cơ sở giáo dục. Tiền án: 04 (Bốn) tiền án (đã được xóa án tích): Án số 271/HSST ngày 18/9/1995, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Hạn tù tính từ ngày 02/6/1995, bị án ra trại ngày 02/6/1996. Án số 13/HSST ngày 13/02/2003 Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Hạn tù tính từ ngày 12/11/2002, bị án ra trại ngày 12/11/2003. Án số 263/HSST ngày 20/12/2007 Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội xử phạt 31 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 10/10/2007, bị án ra trại ngày 10/02/2010. (đã nộp án phí ngày 05/3/2008). Án số 131/HSST ngày 21/12/2010 Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hạn tù tính từ ngày 11/9/2010, bị án ra trại ngày 11/12/2013. (Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm không thụ lý hồ sơ trên nên không xác minh được về phần nộp án phí). Mặc dù các tiền án, tiền sự này đã được xóa nhưng bị cáo vẫn bị xem là người có nhân thân xấu. Bị cáo sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đã gây khó khăn cho quá trình điều tra xử lý đối với bị cáo. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, khi lượng hình HĐXX cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, đầu thú nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về xử lý vật chứng: Không.
Đối với Vũ Hoàng A: Ngày 06/3/2018, Tòa án nhân dân quận Long Biên đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Vũ Hoàng A 10 (Mười) tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản và quyết định xử lý vật chứng tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe bò sắt là phương tiện phạm tội. Do đó, HĐXX không xem xét trong vụ án này.
Về dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Công ty cổ phần X, được đại diện bởi anh Trần Văn T toàn bộ số tài sản đã tạm giữ (gồm 28 (Hai mươi tám) thanh sắt xoắn Hòa Phát các loại, có tổng trọng lượng: 182 kg). Anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác về dân sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Vũ Hồng P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Hồng P phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 của Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Vũ Hồng P 10 (Mười) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Không.
3. Về dân sự: Không.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Hồng P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo Vũ Hồng P có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên; - Sở Tư pháp TP. Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; người tham gia tố tụng. - Lưu Hồ sơ, lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hằng |