vanban.org

Bản án 204/2026/KDTM-PT — Các tranh chấp khác

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/05/2026 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/05/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy

định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Huỷ toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 183/2025/KDTM-

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các tranh chấp khác — án kinh doanh thương mại — "Nguyễn Kim P - Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 204/2026/KDTM-PT
Ngày: 28-5-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vốn góp,

hợp tác kinh doanh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm

Các Thẩm phán:

Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Bà Lưu Thị Đoan Trang

Thư ký phiên toà: Bà Lâm Hỷ Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24-4-2026, 14-5-2026 và ngày 28-5-2026, tại trụ sở Toà án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số

103/2026/TLPT-KDTM ngày 09-3-2026 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vốn

góp, hợp tác kinh doanh”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 183/2025/KDTM-ST ngày 31-

10-2025 của Tòa án nhân dân Khu F, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1895/2026/QĐ-PT ngày 08-4-2026;

Quyết định hoãn phiên toà số 5916/2026/QĐ-PT ngày 24-4-2026, giữa các

đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1966.

Địa chỉ: 45/4 đường A2, phường D3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn H, sinh năm 1987; địa chỉ:

320 đường B3, phường E5, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền ngày

04-11-2021) (xin vắng mặt).

Bị đơn: Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K.

Trụ sở: 14 đường H2, phường M3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Thân Thị Lan N, chức vụ: Tổng Giám

đốc; địa chỉ thường trú: 42/48 đường J4, phường L2, Thành phố Hồ Chí Minh; địa

chỉ hiện nay: 85/12 đường T3, ấp P2, xã A1, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng

mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Thân Thị Lan N, sinh năm 1981;

địa chỉ thường trú: 42/48 đường J4, phường L2, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ hiện nay: 85/12 đường T3, ấp P2, xã A1, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực F, Thành

phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Bà

Nguyễn Kim P có người đại diện theo ủy quyền là Ông Trần Văn H trình bày:

Bà Nguyễn Kim P (Nguyên đơn) và Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K

(Bị đơn) có ký với nhau hợp đồng góp vốn, hợp tác kinh doanh số 36/2019/TTHT-KS ngày 01-5-2019, theo đó Nguyên đơn góp 600.000.000 (sáu trăm triệu) đồng, lãi 3%/tháng (chia phần lợi nhuận trên vốn góp), thời hạn 12 tháng. Tuy nhiên, đến hạn Bị đơn không thanh toán tiền cho Nguyên đơn như cam kết.

Theo biên bản họp ngày 09-5-2020 giữa hai bên, Bị đơn cam kết trả dứt

gốc 600.000.000 đồng cho Nguyên đơn trong tháng 5-2020, có ký tên bà Nguyễn Thị Kiều T (lúc này là Giám đốc đốc điều hành của Bị đơn) và đóng dấu công ty. Trong tháng 6-2020, Bị đơn trả cho Nguyên đơn 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng vốn gốc. Theo đơn đề nghị ngày 07-5-2020 của Nguyên đơn gửi Ban giám đốc Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K, bà Nguyễn Thị Kiều T ký xác nhận và đề nghị hoàn vốn gốc theo biên bản họp ngày 09-5-2020; tuy nhiên Bị đơn không thực hiện.

Nhận thấy quyền và lợi ích bị xâm phạm, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị

đơn trả số tiền còn nợ, gốc là 580.000.000 đồng, lãi tạm tính từ ngày 01-6-2020 đến ngày 28-8-2025 theo mức lãi suất Bộ luật Dân sự quy định là 304.499.000 đồng. Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 29-8-2025 đến khi dứt nợ.

Tại bản khai ngày 30-10-2025, đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn yêu

cầu Bị đơn thanh toán số tiền còn nợ theo biên bản họp ngày 09-5-2020 gốc là 580.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01-6-2020 đến ngày 31-10-2025 (khoảng 05 năm 05 tháng) theo lãi suất Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định là: 580.000.000 đồng x 5,42 năm x 10%/năm = 314.360.000 đồng. Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 01-11-2025 đến khi dứt nợ.

Bị đơn Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K và người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan Bà Thân Thị Lan N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không rõ lý do.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 183/2025/KDTM-ST ngày 31-

10-2025 của Tòa án nhân dân Khu F, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của Bà Nguyễn Kim P.

1. Buộc Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K thanh toán cho Bà Nguyễn

Kim P số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 31-10-2025 là: 894.360.000 (tám trăm chín mươi bốn triệu ba trăm sáu mươi nghìn) đồng, trong đó gốc 580.000.000

đồng, lãi 314.360.000 đồng. Tiếp tục tính lãi kể từ ngày 01-11-2025 đến khi dứt

nợ.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu Bị đơn chậm thực

hiện nghĩa vụ thanh toán nợ nêu trên thì Bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền

chậm trả theo mức lãi suất các bên thoả thuận nhưng phải phù hợp với quy định

của pháp luật; nếu không có thoả thuận về mức lãi suất thì tính theo mức lãi suất

quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và

quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 21-11-2025, Tòa án nhân dân Khu F nhận được Quyết định kháng

nghị số 13/QĐ-VKS-KDTM ngày 20-11-2025 của Viện trưởng Viện Kiểm sát

nhân dân Khu vực F, Thành phố Hồ Chí Minh, kháng nghị một phần bản án sơ

thẩm, đề nghị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo

hướng sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm,

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký

phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi

thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp

luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu

vực F, Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận;

tuy nhiên do bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc

thẩm không thể khắc phục; đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và

chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm

nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Kim P

và Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K có ký kết hợp đồng góp vốn, hợp tác

kinh doanh; quá trình thực hiện hợp đồng các bên phát sinh tranh chấp; do đó Bà

Nguyễn Kim P khởi kiện Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K. Đây là tranh

chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có

đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Công ty Cổ phần

Sản xuất Nông sản K có trụ sở tại phường M3, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa

án nhân dân Khu F, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm là đúng thẩm quyền

theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố

tụng dân sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.

[2] Về thời hạn kháng nghị: Ngày 31-10-2025, Tòa án nhân dân Khu F xét

xử sơ thẩm; ngày 21-11-2025, Tòa án nhân dân Khu F nhận được Quyết định kháng nghị số 13/QĐ-VKS-KDTM ngày 20-11-2025 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực F, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy, quyết định kháng nghị trong thời hạn luật định và hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về xác định tư cách đương sự và thủ tục tống đạt của cấp sơ thẩm,

Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo thông tin do Sở Kế hoạch và Đầu tư (nay là Sở Tài chính) Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp, Bị đơn Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K có Mã số doanh nghiệp 0305074664, đăng ký lần đầu ngày 06-7-2007, đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 31-5-2023. Địa chỉ trụ sở: 14 đường H2, phường H4, Quận K3, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 14 đường H2, phường M3, Thành phố Hồ Chí Minh). Người đại diện theo pháp luật: Bà Thân Thị Lan N, địa chỉ: 42/48 đường J4, Phường U2, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 42/48 đường J4, phường L2, Thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho Bị đơn là “Công ty TNHH G” có Mã số doanh nghiệp 0317225122; người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Kiều T. Việc tống đạt cho Công ty TNHH G và người đại diện theo pháp luật bà Nguyễn Thị Kiều T là không đúng đối tượng và không đúng địa chỉ của Bị đơn theo quy định tại các điều 68, 177, 178, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4] Ngày 06-10-2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực F có văn bản yêu

cầu Tòa án nhân dân Khu F xác minh tình trạng cư trú của Bà Thân Thị Lan N tại địa chỉ 42/48 đường J4, phường L2, Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo việc tống đạt văn bản tố tụng. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm không thực hiện việc xác minh này. Tại Bản khai ngày 11-5-2026, Bà Thân Thị Lan N, người đại diện theo pháp luật của Bị đơn trình bày: bà N xác nhận đang cư trú tại địa chỉ 85/12 đường T3, xã A1, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến nay. bà N không biết việc Nguyên đơn khởi kiện Công ty Cổ phần Sản xuất Nông sản K, cũng như chưa từng được Toà án cấp sơ thẩm triệu tập tham gia tố tụng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn, cụ thể Toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn vốn gốc 580.000.000 đồng và tiền lãi 314.360.000 đồng là không đúng; không phù hợp với các chứng từ giao dịch, sao kê tại Ngân hàng mà bà N cung cấp tại cấp phúc thẩm.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án cấp sơ

thẩm đã có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự; ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được; do đó Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

[6] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực F,

Thành phố Hồ Chí Minh; Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung kháng nghị có cơ sở chấp nhận; tuy nhiên bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

như đã phân tích trên, cần phải huỷ án; do đó khi cấp sơ thẩm giải quyết lại cần

xem xét nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát để xét xử theo đúng quy định

của pháp luật.

[7] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy

định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Huỷ toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 183/2025/KDTM-

ST ngày 31-10-2025 của Tòa án nhân dân Khu F, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Khu F, Thành phố Hồ Chí Minh giải

quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Các đương sự không phải

chịu án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./ .

Cỡ chữ