- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T1 và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật…"
- Tòa quyết gì? 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (Bảy) năm 03(Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BGI TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 201/2021/HS-ST Ngày 23/11/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BGI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thủy.
2. Ông Nguyễn Văn Môn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T1 , sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: khu PhV , phường VN , thành phố BN , tỉnh Bắc Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H1 , sinh năm 1966, (đã chết); Con bà: Đinh Thị M1 , sinh năm 1966; Hiện ở khu PhV , phường VN , thành phố BN , tỉnh Bắc Ninh; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Ninh Thị Mai X1 , sinh năm 1990; Con: Bị cáo có 03 con (Lớn sinh năm 2012, bé sinh năm 2018); Hiện đang ở số nhà 27, ngõ 28, đường bờ đê tổ dân phố TH , phường ĐM , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang, (Có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nguyễn T1 A1 , sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số nhà 24, ngõ 89, đường NgKhNh, tổ 5, phường TrNgH, thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1962; Con bà: Trần Thị Kim B1 , sinh năm 1967; Hiện ở số nhà 24, ngõ 89, đường NgKhNh, tổ 5, phường TrNgH, thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2021 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang, (Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Trần Quốc S1 , sinh năm 1989, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 186, đường ThTh , phường LL , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
2. Anh Nguyễn Văn T2 , sinh năm 1986, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 220, bến phà ChL 1, phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
3. Chị Lê Đan V1 , sinh năm 1999, (Vắng mặt).
ĐKHKTT: Số nhà 06, ngõ 55, đường AL , phường TrPh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở: Số nhà 570, đường XGi , phường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
4. Chị Nguyễn Thị ThA , sinh năm 2000, (Vắng mặt).
ĐKHKTT: Xóm 6, xã Đỉnh Sơn, huyện Anh S1 , tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở: Số nhà 570, đường XGi , phường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
5. Chị Kiều Thị NgA, sinh năm 2001, (Vắng mặt).
ĐKHKTT: Khối 4, xã PhL , huyện SS , thành phố Hà Nội.
Chỗ ở: Số nhà 570, đường XGi , phường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
6. Chị Hoàng Thị Qu1 , sinh năm 2001, (Vắng mặt).
ĐKHKTT: Thôn C , xã BS , huyện LNg , tỉnh Bắc Giang.
Chỗ ở: Số nhà 570, đường XGi , phường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
7. Chị Hoàng Thị BNg , sinh năm 2001, (Vắng mặt).
ĐKHKTT: Thôn VTh , xã HL , huyện HL1 , tỉnh Lạng Sơn.
Chỗ ở: Số nhà 570, đường XGi , phường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
8. Anh Mai Văn H2 , sinh năm 1980, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 170, đường ThNhTr , phường MĐ , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
9. Chị Ninh Thị Qu2 , sinh năm 1995, (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 19, nghách 41, ngõ 274, đường LL , phường HVTh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
10. Chị Ninh Thị Mai X1 , sinh năm 1990, (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 27, ngõ 28, đường bờ đê tổ dân phố TH , phường ĐM , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
* Người chứng kiến:
1. Anh Hoàng Văn Th1 , sinh năm 1980, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 108, đường VNgGi , thôn MC , xã TM , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
2. Ông Hoàng Văn V2 , sinh năm 1965, (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số nhà 131, đường VNgGi , thôn MC , xã TM , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 28/02/2021, tại nhà nghỉ H-V thuộc thôn MC , xã TM thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với tổ công tác Công an thành phố BGi kiểm tra, phát hiện bắt quả tang 09 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Nguyễn T1 A1 , sinh năm 1992, ở số 24- ngõ 89 đường Nguyễn Khắc Nhu- TrNgH -thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn T1 , sinh năm 1991, ở ngõ 1 đường 28-phường VL -thành phố BN - tỉnh Bắc Ninh; Trần Quốc S1 , sinh năm 1989, ở số nhà 186 đường ThTh -LL - thành phố BGi -tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn T2 , sinh năm 1986, ở số 220 -ChL 1 - TrPh - thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang; Lê Đan V1 , sinh năm 1999, ở AL -phường TrPh -thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Thị ThA, sinh năm 2000, ở Đỉnh Sơn -Anh S1 -Nghệ An; Hoàng Thị Qu1 , sinh năm 2001, ở BS -LNg -Bắc Giang; Kiều Thị NgA, sinh năm 2001, ở Phủ Lỗ-SS -Hà Nội và Hoàng Thị BNg , sinh năm 2001, ở Hòa Lạc-HL1 - Lạng Sơn (05 đối tượng nữ đang trú tại số 570, đường XGi , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang). Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) viên nén hình lục giác mầu cam trên một mặt của viên nén có chữ “qp” nghi là ma túy tổng hợp, tang vật do đồng chí Nguyễn Minh Cường - cán bộ đội CSĐTTP về ma túy- Công an thành phố BGi phát hiện thu giữ tại nền phòng dưới mặt đệm trong phòng không gắn số của tầng 6 (phòng nằm ở vị trí bên phải đi từ cầu thang bộ lên) được cho vào một phong bì kí hiệu “01” dán kín, niêm phong tại chỗ.
- 01 (một) túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa và viền mầu đỏ, mở ra bên trong đựng chất tinh thể mầu trắng nghi là ma túy, tang vật do đồng chí Nguyễn Minh Cường - cán bộ đội CSĐTTP về ma túy- Công an thành phố BGi phát hiện thu giữ trên mặt đĩa sứ hình tròn mầu trắng đang để tại nền phòng trong phòng không gắn số của tầng 6 được cho vào một phong bì kí hiệu “02” dán kín, niêm phong tại chỗ.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn mầu trắng, trên mặt của đĩa sứ có bám dính chất tinh thể mầu trắng nghi là ma túy; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng VIETCOMBANK mang tên “HOANG THI QUYNH”; 01 (một) ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng 02 đầu ống được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá SAIGON
- Tất cả đều bám dính tinh thể mầu trắng đều nghi là ma túy. Tang vật do đồng chí Nguyễn Minh Cường - cán bộ đội CSĐTTP về ma túy- Công an thành phố BGi phát hiện thu giữ tại nền phòng không gắn số của tầng 6 được cho vào một phong bì (loại túi đựng hồ sơ) niêm phong dán kín tại chỗ có chữ ký cùng tên của những người lên quan tham gia niêm phong lên phần giáp lai của phong bì, có lập biên bản niêm phong kèm theo.
- 01 (một) loa màu đen xám nhãn hiệu BRAVEN,
- 01 đèn chớp cũ đã qua sử dụng.
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai màu sơn đỏ, biển kiểm soát 98A-291.43, đã qua sử dụng.
- 01 (một) đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua DHI – XVR4104C màu trắng, có số S/N: 3H033AFPBQ9LYAY đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng Catton bằng giấy dán niêm phong.
Quá trình điều tra đã xác định diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Khoảng hơn 16 giờ ngày 28/2/2021, T1 A1 và Nguyễn Văn T1 sinh năm 1991 (là anh em họ) cùng Nguyễn Hoàng Tr3 , sinh năm 1980, trú tại số nhà 19, ngách 41, ngõ 274, đường LL , tổ dân phố HHTh 1, phường HVTh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang (là anh em cọc chèo với Nguyễn Văn T1 sinh năm 1991); Nguyễn Văn T2 , sinh năm 1986, Trần Quốc S1 cùng 03 nhân viên phục vụ quán hát gồm: Nguyễn Thị ThA; Lê Đan V1 , Nguyễn Thị Qu1 hát Karaoke tại quán Thiên Kỷ Mới thuộc phường HVTh - thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang. Sau khi hát xong, do trước đó có nghe Tr3 nói chuyện thuê lại nhà nghỉ H-V ở thôn MC -TM - thành phố BGi để kinh doanh nên Nguyễn Văn T1 sinh năm 1991 bảo mọi người đi sang nhà nghỉ H-V của Tr3 để “sập” một, hai đường ke (ý là bảo mọi người đi sử dụng ma túy) thì mọi người đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98A - 291.43, nhãn hiệu Huyndai sơn màu đỏ (là xe của Nguyễn Văn T1 sinh năm 1991 sử dụng) để đưa 08 người về nhà nghỉ H-V ở thôn MC -TM -thành phố BGi -Bắc Giang. Trên đường đi về Nhà nghỉ H-V, T1 sinh năm 1991 gọi điện thoại cho Lê Thu H4 , sinh năm 1987, trú tại số nhà 08 ngách 61, ngõ 11, đường CB , tổ DCh - phường LL - thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang (thường gọi là H4 Đẩu) để đặt mua 01 chỉ ma túy loại Ketamin (ma túy ke) và 02 viên ma túy loại MDMA (ma túy kẹo) và hẹn H4 đem ma túy đến nhà nghỉ H-V. Khi đến nhà nghỉ H-V thì cửa khóa, do không có chìa khóa để mở của cho nên Tr3 đã điện thoại cho anh Mai Văn H2 , sinh năm 1980, ở số nhà 170-đường ThNhTr -phường MĐ -thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang để mượn chìa khóa (anh H2 là bạn của Tr3 và là người thuê lại nhà nghỉ H-V của anh Hoàng Văn L4 , sinh năm 1961 ở thôn TPh- TM - thành phố BGi ) để mở cửa thì được anh H2 bảo chìa khóa do anh Nguyễn Văn Nh4 , sinh năm 1980 ở số nhà 19-đường Ngô Văn Cảnh-phường HVTh -thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang đang cầm, nếu cần thì điện cho Nhận. Tr3 lại điện thoại cho anh Nh4 để hỏi mượn chìa khóa thì được anh Nh4 hẹn đến quán nước ở khu vực đường HVTh - phường Dĩnh Kế- thành phố BGi để lấy chìa khóa. Tr3 bảo T2 sinh năm 1986 quay xe lại để lấy chìa khóa. Sau khi Tr3 lấy được chìa khóa và về nhà nghỉ H-V thì Tr3 là người đã mở cửa nhà nghỉ cho mọi người vào và bảo, chỉ dẫn cho mọi người đi lên phòng trên tầng 6 của nhà nghỉ để mọi người sử dụng trái phép chất ma túy.
Sau đó, Tr3 có bảo T2 sinh năm 1986 đi cùng đến quán trà sữa ở ki ốt Đại Hoàng Sơn lấy Loa về nghe nhạc và quay lại ngay; T1 sinh năm 1991 bảo ThA gọi thêm cho 02 nhân viên nữa đến nhà nghỉ và không nói là gọi đến để sử dụng ma túy, ThA có điện thoại cho Ánh bảo cho 02 người đến nhà nghỉ H-V để làm. Khi mọi người đến và vào nhà nghỉ được một lúc, thì Hoàng Thị BNg và Kiều Thị NgA là nhân viên do ThA gọi đến và vào trong nhà nghỉ. Lúc này mọi người tập Tr3 tại khu vực quầy lễ tân thì Qu1 đã tự sử dụng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và nhờ Ánh rút hộ cho 02 đầu lọc của 02 điếu thuốc lá để làm ống hút sử dụng ma túy ke.
Khoảng 30 phút sau thì có một nam thanh niên lái xe taxi đến cửa, T1 sinh năm 1991 đi ra thì nam thanh niên lái taxi hỏi “anh lấy hàng của chị H4 à?”, T1 trả lời “ừ”. Nam thanh niên đưa cho T1 sinh năm 1991 một túi nilon đựng ma túy ke và 02 (hai) viên ma túy kẹo rồi đi ngay. T1 sinh năm 1991 cầm túi ma túy vừa mua được đi vào khu vực quầy rồi dơ túi ma túy lên cho mọi người xem, sau đó T1 sinh năm 1991 cầm đĩa sứ và chiếc bật lửa tại bàn quầy lễ tân rồi cùng mọi người đi lên phòng trên tầng 6 của nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Lên đến tầng 6 mọi người vào phòng một phòng không gắn số, T1 A1 và ThA đã sang phòng bên cạnh để bê chiếc đệm sang trải xuống nền trong phòng không gắn số cho mọi người ngồi. T1 sinh năm 1991 bỏ 02 viên ma túy kẹo từ trong túi nilon ra rồi thả túi nilon đựng ma túy ke lên trên mặt đệm sau đó bẻ viên ma túy kẹo ra làm 04 (bốn) phần rồi đưa cho T1 A1 , T2 sinh năm 1986 và Sơn mỗi người 01 phần để sử dụng. Sau khi T2 sinh năm 1986 sử dụng hết mảnh viên ma túy kẹo thì T1 sinh năm 1991 đưa tiếp cho T2 sinh năm 1986 một viên ma túy kẹo để sử dụng nhưng T2 sinh năm 1986 không sử dụng nữa nên đã vứt ra rìa mép đệm. Số ma túy kẹo còn lại T1 sinh năm 1991 để trên đệm để ai sử dụng thì lấy. Đối với số ma túy dạng ketamin, Qu1 và Ngọc là người xào ma túy ke để sử dụng và cho mọi người sử dụng. Tr3 sử dụng ma túy được một lúc sau đó ra về trước. Còn mọi người vẫn ở trong phòng sử dụng ma túy và nghe nhạc. Sau đó, vì mọi người có nhu cầu sử dụng thêm nên T1 A1 có lấy số điện thoại của "H4 Đẩu" từ máy điện thoại của T1 sinh năm 1991 rồi gọi điện thoại cho H4 để đặt mua thêm 03 (ba) viên ma túy kẹo cho mọi người sử dụng thì H4 đồng ý và hẹn khoảng 30 phút sau sẽ đem đến. T1 A1 chờ khoảng 30 phút thì đi xuống dưới cửa nhà nghỉ bấm hé cửa qua khe cửa nhìn ra ngoài, đợi một lúc thì thấy có xe ô tô đến cửa. T1 A1 mở cửa đi ra rồi lên xe ô tô hỏi người lái xe là “có phải lúc em gọi không?” ý hỏi là có phải người đàn ông đó đem ma túy đến cho T1 A1 hay không (do lúc trước T1 A1 đã gọi điện cho người phụ nữ để đặt mua 03 (ba) viên ma túy kẹo), thì người đàn ông lái xe đưa cho T1 A1 01 (một) gói giấy loại giấy ăn, T1 A1 mở gói giấy ra xem thì thấy bên trong có gói 03 (ba) viên ma túy kẹo có đặc điểm giống với viên ma túy kẹo mà trước đó T1 sinh năm 1991 đã bỏ ra cho mọi người sử dụng. Người đàn ông đó bảo T1 A1 đưa 300.000 đồng, T1 A1 đưa trả cho người đó số tiền 300.000 đồng rồi cầm gói ma túy vừa mua được đi vào đóng cửa rồi lên phòng trên tầng 6. Lên đến phòng T1 A1 để gói ma túy vừa mua được lên mặt bàn được kê gần đệm và bảo mọi người là “ai dùng thì dùng” ý nói là ai muốn sử dụng ma túy kẹo nữa thì lấy mà dùng. Các đối tượng vừa sử dụng ma túy vừa nghe nhạc đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, T2 sinh năm 1986 đi xuống mở cửa định ra về thì bị kiểm tra bắt quả tang.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu ngay tại chỗ Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1991) và Hoàng Thị BNg đều âm tính với ma túy; 07 đối tượng còn lại đều dương tính với ma túy.
Kết luận giám định số: 373/KL - KTHS, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu „„01‟‟ đã được niêm phong gửi giám định:
+ 01 (một) viên nén hình lục giác màu cam, trên một mặt của viên nén có chữ „„qp‟‟ là ma túy, có khối lượng 0,405 gam, loại MDMA.
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu „„02‟‟ đã được niêm phong gửi giám định:
+ Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 2,410 gam, loại Ketamine.
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu „„03‟‟ đã được niêm phong gửi giám định:
+ Tinh thể màu trắng bám dính trên: Một mặt của 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 (một) thẻ ATM ngân hàng VIETCOMBANK mang tên HOANG THI QUYNH; 01 (một) ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng), hai đầu ống hút được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá SAIGON đều là ma túy, loại Ketamine (không xác định được khối lượng do lượng mẫu quá ít).
Tại Kết luận giám định số: 963/KL - KTHS, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang Kết luận:
- Tìm thấy được 3708 (ba nghìn bẩy trăm linh tám) file video có trong 01 (một) đầu thu camera đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua DHI - XVR4104C, màu trắng, Số S/N: 3H033AFPBQ9LYAY. Trích xuất được 3704 file video có định dạng “.AVI” lưu vào 01 (một) ổ cứng di động HDD, nhãn hiệu WD Elements, số S/N: WXV1E88FZ55R, màu đen.
+ Không trích xuất được 04 file video (do file bị lỗi) gồm các file có ID là: 158, 160, 929, 931 có trong bảng thống kê. (Có bảng thống kê các file video kèm theo kết luận này).
- Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép nội dung hình ảnh trong các file video được trích xuất có trong ổ cứng di động HDD.
- Xác định được thời gian hiển thị trên hệ thống camera là 04/01/2002, không trùng với thời gian thực tế là ngày 28/5/2021 tiến hành giám định (khi bật đầu thu camera).
Quá trình kiểm tra nội dung các file video do Phòng ký thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang trích xuất từ đầu thu camera được lưu vào 01 (một) ổ cứng di động HDD, nhãn hiệu WD Elements, số S/N: WXV1E88FZ55R, màu đen. Cơ quan điều tra không phát hiện thấy có video nào có nội dung có liên quan đến vụ vụ án.
Ngày 03/2/2021, Cơ quan điều tra cho các bị cáo và các đối tượng liên quan thực nghiệm điều tra. Kết quả các bị cáo và các đối tượng thực hiện thuần thục các hành vi khi tham gia sử dụng trái phép ma túy tại nhà nghỉ H-V ngày 28/02/2021.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Hoàng Tr3 là người cung cấp địa điểm là nhà nghỉ H-V để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 28/02/2021. Xét thấy hành vi của Nguyễn Hoàng Tr3 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điều 255 Bộ luật hình sự. Ngày 09/4/2021, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố BGi đã ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Hoàng Tr3 . Quá trình xác minh xác định Tr3 đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 22/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Tr3 . Ngày 24/9/2021, Cơ quan điều tra tách hành vi của Tr3 để tiếp tục điều tra theo quy định.
Đối với người mà T1 sinh năm 1991 và T1 A1 gọi điện hỏi mua ma túy, bước đầu xác định là Lê Thị H4 , sinh năm 1987, trú tại số nhà 08 ngách 61, ngõ 11, đường CB , tổ DCh - phường LL - thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên quá trình điều tra H4 vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định. Đối với người lái xe ô tô mang ma túy đến,T1 sinh năm 1991 và T1 A1 không biết tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xác minh điều tra.
Đối với anh Mai Văn H2 là người thuê lại nhà nghỉ H-V, anh Hoàng Văn L4 là người cho anh H2 thuê lại nhà nghỉ H-V và anh Nguyễn Văn Nh4 là người cho Tr3 mượn thìa khóa nhà nghỉ H-V đều không biết việc Tr3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý là đảm bảo đúng quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986, Trần Quốc S1 , Hoàng Thị Qu1 , Lê Đan V1 , Hoàng Thị BNg , Kiều Thị NgA và Nguyễn Thị ThA, ngày 15/9/2021 Công an thành phố BGi đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Chiếc xe biển kiểm soát 98A - 291.43, nhãn hiệu Huyndai sơn màu đỏ xác định là của chị Ninh Thị Qu2 , sinh năm 1995; ĐKTT: số nhà 19, ngách 41, ngõ 274, đường LL , phường HVTh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang; trú tại số nhà 27, ngõ 28, đường bờ đê tổ dân phố TH , phường ĐM , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang - là em vợ của T1 sinh năm 1991 cho T1 mượn đi ăn cỗ, không biết mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý. Ngày 29/7/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu.
Đối với tài sản thu giữ của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986, Trần Quốc S1 , Hoàng Thị Qu1 , Lê Đan V1 , Hoàng Thị BNg , Kiều Thị NgA, Nguyễn Thị ThA, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của người bị thu giữ, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị thu giữ theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn T1 A1 và Nguyễn Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 21 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 và bị cáo Nguyễn T1 A1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T1 khai nhận: Toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không bị oan. Đối với chiếc sim 0915.088.666 mà bị cáo sử dụng để mua ma túy là chiếc sim đứng tên của vợ bị cáo, việc bị cáo sử dụng chiếc sim trên để mua ma túy vợ bị cáo không biết. Còn đối với chiếc điện thoại iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484 là của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn T1 A1 : Toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không bị oan. Đối với điện thoại Sam Sung Galaxy Note 10 có gắn sim 0989.311.892 mà bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy là của bị cáo.
Chị Ninh Thị Qu2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên toà: Chị giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra. Chị là chủ sở hữu chiếc xe nhãn hiệu Huyndai sơn màu đỏ có BKS 98A-291.43. Việc bị cáo T1 mượn xe chỉ nói là đi ăn cỗ nên chị không biết việc bị cáo T1 sử dụng chiếc xe trên để chở mọi người đi sử dụng ma túy. Chị Ninh Thị Qu2 đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô nêu trên. Chị không có ý kiến gì khác.
Chị Ninh Thị Mai X1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên toà: Chị là chủ sở hữu của chiếc sim điện thoại 0915.088.666. Hai vợ chồng kinh doanh nên cùng sử dụng chiếc sim điện thoại nêu trên. Bị cáo T1 sử dụng chiếc sim nêu trên vào việc mua ma túy chị không biết. Nay chị đã làm lại chiếc sim nêu trên nên không đề nghị gì.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 , bị cáo Nguyễn T1 A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với bị cáo Nguyễn T1 A1 : Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn T1 A1 từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 03 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được niêm phong. Trong đó:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “01” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “02” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy.
+ Trong phong bì thư có ký hiệu “03” gồm có:
+ Tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có một mặt bám dính ma túy và 01 thẻ ATM ngân hàng VIETCOMBANK mang tên HOANG THI QUYNH có bám dính ma túy.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ống hút được quấn bảng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín kí hiệu “KX” có đựng 01 mảnh giấy loại giấy ăn màu trắng đục.
- Trả lại cho anh Mai Văn H2 01 đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua DHI-XVR4104C màu trắng, có số S/N: 3H033AFPBQ9LYAY đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng Catton bằng giấy dán niêm phong được hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484, đã cũ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 sim điện thoại 0915.088.666 lắp trong điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Sam sung Galaxy Note 10, số seri: RF8M73S52GY cũ đã qua sử dụng trong đó có gắn sim 0989.311.892.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 : 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe ô tô đều mang tên Nguyễn Văn T1 .
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 1.090.000 đồng đã được niêm phong trong phong bì nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nguyễn T1 A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa đều không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố BGi , Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của những người này nên căn cứ vào các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt họ.
Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ ngày 28/02/2021, tại nhà nghỉ H-V thuộc thôn MC , xã TM thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với tổ công tác Công an thành phố BGi kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T1 , sinh năm 1991, trú tại khu PhV , phường VN , thành phố BN , tỉnh Bắc Ninh và Nguyễn T1 A1 , sinh năm 1992, trú tại số nhà 24, ngõ 89, đường Nguyễn Khắc Nhu, tổ 5, phường TrNgH , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho 07 đối tượng với loại ma túy Ketamin và MDMA. Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố BGi truy tố các bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Trước khi bị xét xử ngày hôm nay, các bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử về một tội gì bằng bản án có hiệu lực pháp luật, chưa bị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn T1 A1 được tặng bằng khen của công ty cổ phần điện tử SJ Vina nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu trách nhiệm là vai trò chính của vụ án và cao hơn bị cáo Nguyễn T1 A1 . Bởi lẽ, bị cáo T1 là người rủ mọi người đi sử dụng trái phép chất ma túy, là người cung cấp ma túy cho mọi người sử dụng.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì nhu cầu của bản thân đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội phạm này.
Tại biên bản xác minh ngày 08/3/2021 và biên bản xác minh ngày 23/3/2021, chính quyền địa phương nơi các bị cáo Đăng ký hộ khẩu thường trú cung cấp: Các bị cáo đều không có việc làm ổn định, không có khả năng chấp hành hình phạt bổ sung. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 03 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được niêm phong. Trong đó:
+ 01 phong bì thư có ký hiệu “01” và 01 phong bì thư có ký hiệu “02” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
+ Trong phong bì thư có ký hiệu “03” gồm có:
+ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có một mặt bám dính ma túy và 01 thẻ ATM ngân hàng VIETCOMBANK mang tên HOANG THI QUYNH có bám dính ma túy là công cụ sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 ống hút được quấn bảng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là công cụ sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 phong bì thư niêm phong dán kín kí hiệu “KX” có đựng 01 mảnh giấy loại giấy ăn màu trắng đục là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua DHI-XVR4104C màu trắng, có số S/N: 3H033AFPBQ9LYAY đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng Catton bằng giấy dán niêm phong được hoàn lại sau giám định là tài sản của nhà nghỉ H-V do anh Mai Văn H2 quản lý không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho nhà nghỉ H-V do anh Mai Văn H2 quản lý.
- 01 điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 điện thoại Sam sung Galaxy Note 10, số seri: RF8M73S52GY cũ đã qua sử dụng trong đó có gắn sim 0989.311.892 các bị cáo đã sử dụng điện thoại nêu trên để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 sim điện thoại 0915.088.666 lắp trong điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484 chủ sở hữu chiếc sim điện thoại nêu trên đã tiến hành làm lại chiếc sim như khai nhận tại phiên tòa nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe ô tô đều mang tên Nguyễn Văn T1 là giấy tờ cá nhân của bị cáo T1 nên cần trả lại cho bị cáo T1 .
- Số tiền 1.090.000 đồng đã được niêm phong trong phong bì là tài sản cá nhân của bị cáo T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T1 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Những vấn đề khác có liên quan:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Hoàng Tr3 là người cung cấp địa điểm là nhà nghỉ H-V để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 28/02/2021. Xét thấy hành vi của Nguyễn Hoàng Tr3 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điều 255 của Bộ luật Hình sự. Ngày 09/4/2021, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố BGi đã ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Hoàng Tr3 . Quá trình xác minh xác định Tr3 đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 22/4/2021, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Tr3 . Ngày 24/9/2021, Cơ quan điều tra tách hành vi của Tr3 để tiếp tục điều tra theo quy định.
Đối với người mà T1 sinh năm 1991 và T1 A1 gọi điện hỏi mua ma túy, bước đầu xác định là Lê Thị H4 ,sinh năm 1987, trú tại số nhà 08 ngách 61, ngõ 11, đường CB , tổ DCh - phường LL - thành phố BGi - tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên quá trình điều tra H4 vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định. Đối với người lái xe ô tô mang ma túy đến,T1 sinh năm 1991 và T1 A1 không biết tên tuổi địa chỉ nên không có căn cứ xác minh điều tra.
Đối với anh Mai Văn H2 là người thuê lại nhà nghỉ H-V, anh Hoàng Văn L4 là người cho anh H2 thuê lại nhà nghỉ H-V và anh Nguyễn Văn Nh4 là người cho Tr3 mượn chìa khóa nhà nghỉ H-V đều không biết việc Tr3 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý là đảm bảo đúng quy định.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986, Trần Quốc S1 , Hoàng Thị Qu1 , Lê Đan V1 , Hoàng Thị BNg , Kiều Thị NgA và Nguyễn Thị ThA, ngày 15/9/2021 Công an thành phố BGi đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Chiếc xe biển kiểm soát 98A - 291.43, nhãn hiệu Huyndai sơn màu đỏ xác định là của chị Ninh Thị Qu2 , sinh năm 1995; ĐKTT: số nhà 19, ngách 41, ngõ 274, đường LL , phường HVTh , thành phố BGi , tỉnh Bắc Giang - là em vợ của T1 sinh năm 1991 cho T1 mượn đi ăn cỗ, không biết mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý. Ngày 29/7/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu.
Đối với tài sản thu giữ của Nguyễn Văn T2 sinh năm 1986, Trần Quốc S1 , Hoàng Thị Qu1 , Lê Đan V1 , Hoàng Thị BNg , Kiều Thị NgA, Nguyễn Thị ThA, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của người bị thu giữ, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị thu giữ theo quy định.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T1 , Nguyễn T1 A1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Văn T1 , Nguyễn T1 A1 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 .
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn T1 A1 .
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử:
1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 07 (Bảy) năm 03(Ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2021.
1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn T1 A1 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2021.
1.3. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng:
- Đối với 03 phong bì thư đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được niêm phong. Trong đó:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “01” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư có ký hiệu “02” đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là ma túy.
+ Trong phong bì thư có ký hiệu “03” gồm có:
+ Tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có một mặt bám dính ma túy và 01 thẻ ATM ngân hàng VIETCOMBANK mang tên HOANG THI QUYNH có bám dính ma túy.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 ống hút được quấn bảng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong dán kín kí hiệu “KX” có đựng 01 mảnh giấy loại giấy ăn màu trắng đục.
- Trả lại cho anh Mai Văn H2 01 đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua DHI-XVR4104C màu trắng, có số S/N: 3H033AFPBQ9LYAY đã qua sử dụng, được niêm phong trong 01 thùng Catton bằng giấy dán niêm phong được hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484, đã cũ, đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 sim điện thoại 0915.088.666 lắp trong điện thoại di động iphone 6 màu ghi xám, 05 số cuối của IMEI: 40484.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Sam sung Galaxy Note 10, số seri: RF8M73S52GY cũ đã qua sử dụng trong đó có gắn sim 0989.311.892.
- Trả lại cho bị cáo T1 : 01 chứng minh thư nhân dân, 01 giấy phép lái xe ô tô đều mang tên Nguyễn Văn T1 .
- Trả lại cho bị cáo T1 số tiền 1.090.000 đồng đã được niêm phong trong phong bì nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T1 , Nguyễn T1 A1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND thành phố BGi ; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Chi cục THADS TP Bắc Giang; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố BGi ; - Cơ quan THAHS Công an thành phố BGi ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang - Các bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - UBND phường VN , TP Bắc Ninh; - UBND phường TrNgH , TP Bắc Giang. - Lưu Hồ sơ vụ án; Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Đình Hƣng |