- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "đòi lại tài sản"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 200/2018/DS-ST Ngày: 30.11. 2018 V/v tranh chấp Đ i ại t i n |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tấn Khoa;
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ng Thị L m, là Thư k Tòa án nhân dân huyện Ch M i.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Kh ng tham gia phiên Tòa.
Ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ch M i, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án thụ l số: 390/2018/TLST- DS ngày 25 tháng 9 năm 2018 về việc tranh chấp: Đ i ại t i n theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2018/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1953 Có m t .
Địa chỉ: T 20, ấp T, x M, huyện C, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1952 V ng m t .
Địa chỉ: T 20, ấp T, x T, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG V ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, biên bản kh ng hòa giải đư c và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Vào ngày 20.5.1998 bà có cho bà M mư n 05 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 l i suất 50.000đ/tháng, mục đích để bu n bán, kh ng thỏa thuận thời gian trả, trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017 bà M có trả đư c cho bà 03 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 , số vàng còn lại 02 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 đến nay bà M kh ng trả cho bà. Việc giao nhận có làm biên nhận giữa hai bên và có tên vào biên nhận. Sau thời gian kh ng trả số vàng còn lại, bà có đến nhà bà M yêu cầu trả nhưng cứ h n mà kh ng thực hiện. Nay bà yêu cầu bà M có ngh a vụ trả cho bà 02 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 , kh ng yêu cầu tính l i.
Tòa án đ th ng báo thụ l vụ án và triệu tập h p lệ bà Trần Thị M đến tham gia phiên họp và hòa giải theo đúng trình tự của pháp luật nhưng bà M kh ng đến nên Tòa án kh ng tiến hành hòa giải đư c.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà Trần Thị M, bà M có nơi cư ngụ tại ấp T, x M, huyện C, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện C thụ l giải quyết là đúng theo quy định tại điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Trần Thị M đư c tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định ho n phiên tòa nhưng v n v ng m t, căn cứ Điều 228 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử v ng m t bà M.
[2] Qua lời khai của bà M, các tài liệu chứng cứ bà cung cấp và qua quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa h m nay, Hội đồng xét xử xác định giữa bà v i bà M có xác lập h p đồng mư n vàng v i nhau trên cơ sở tự nguyện. Hai bên có làm biên nhận vào ngày 20.5.1998 số vàng 05 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 mư n mục đích để bu n bán, l i suất 50.000đ/tháng, kh ng thỏa thuận thời gian trả. Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2017 bà M có trả đư c cho bà 03 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 . Từ khi mư n đến nay bà M kh ng đóng l i. Nay bà yêu cầu đòi lại số vàng trên. Xét thấy việc mư n giữa các bên đư c xác lập trên cơ sở tự nguyện, kh ng trái đạo đức x hội, đư c pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà M kh ng thực hiện ngh a vụ thanh toán n khi bà M có yêu cầu thu hồi vốn làm thiệt thòi quyền l i của bà M. Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa bà M v ng m t và cũng kh ng gởi kiến trình bày để Hội đồng xét xử xem xét. Bà M xuất trình chứng cứ là biên nhận do bà M k tên, do vậy yêu cầu của bà M là có căn cứ đư c quy định tại Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005 để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa bà M v n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Từ những cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc bà M có ngh a vụ phải trả cho bà M số vàng 02 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 .
[3] Về l i suất: Bà M kh ng yêu cầu nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Trần Thị M thuộc trường h p đư c miễn án phí, nhưng bà kh ng gởi đơn cho Tòa án xem xét nên bà phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các ẽ trên,
QUYẾT Đ NH
Căn cứ:
- Điều 256 Bộ luật dân sự năm 2005;
- Điều 26, 35, 39, 144, 147, 228, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
Buộc bà Trần Thị M có ngh a vụ trả cho bà Nguyễn Thị M 02 chỉ vàng 24 kara loại vàng 9999 .
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 345.000 đồng Ba trăm bốn mươi lăm ngàn đồng .
Đương sự có m t tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự v ng m t tại phiên tòa ho c kh ng có m t khi tuyên án mà có l do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận đư c bản án ho c đư c tống đạt h p lệ.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh An Giang; -VKSND huyện C; -Chi cục THADS huyện C; -Các đương sự; -Lưu. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |