vanban.org

Bản án 20/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 17/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Trần Quang N phải chịu 200.000 đồng án phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN H
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày: 17-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN H, TỈNH TRÀ V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phi Long

Ông Trần Văn Nước

- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Rine – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Thơm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Quang N sinh ngày 09/4/1985; tại tỉnh Vĩnh Long.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm 30/4, phường 2, thị xã Duyên H, tỉnh Trà V; nơi cư trú: khóm 30/4, phường 2, thị xã Duyên H, tỉnh Trà V; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1958; vợ tên Vi Thị Thanh L, sinh năm 1995 ( ly hôn năm 2021 ); con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; anh chị em có 02 người kể cả bị cáo, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 25/5/2023 đến ngày 26/5/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay ( có mặt tại điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Duyên H ).

- Bị hại:

Bà Nguyễn Giang T sinh năm 1988; trú tại: khóm Phước T, phường 1, thị xã Duyên H, tỉnh Trà V; ( có đơn xin xét xử vắng mặt ).

- Người hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

- Người hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Đại uý Nguyễn Trường Giang, Cán bộ Đội Tổng hợp Công an thị xã Duyên H, tỉnh Trà V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 24/5/2023 bị cáo Trần Quang N điều khiển xe mô tô biển số 84F1 – 072.70 ( xe bị cáo mượn của người bạn ) đi từ nhà trọ Việt Trung đến khách sạn Hải Dương 2 thuộc khóm Phước T, phường 1, thị xã Duyên H, tỉnh Trà V để thuê phòng nghĩ, với mục đến tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Sau khi thuê phòng nghĩ xong, bị cáo vào phòng ngủ đến khoảng hơn 01 giờ sáng ngày 25/5/2023 thì bị cáo thức dậy, đi xuống quầy lễ tân của khách sạn, nhìn thấy Nguyễn Văn T là bảo vệ khách sạn đang ngồi bấm điện thoại nên bị cáo trở lên phòng ngủ tiếp. Đến khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo lại đi xuống quầy lễ tân lần nữa, lần này bị cáo thấy Nguyễn Văn T đang nằm ngủ sát ghế niệm salong nên bị cáo đi đến lấy xâu chìa khóa để kế bên Nguyễn Văn T, rồi bị cáo dùng bịt mũ màu đen che camera an ninh tại quầy lễ tân lại, sau đó bị cáo dùng chìa khóa mở tủ tại quầy lễ tân lấy toàn bộ số tiền để trong là 2.200.000 đồng và 07 thẻ căn cước công dân, 03 giấy chứng minh nhân dân, 02 giất phép lái xe của khách đến lưu trú, rồi bỏ vào túi áo của bị cáo. Sau đó bị cáo nhanh chóng rời khỏi hiện trường, đi đến quán cà fe thuộc phường 2, thị xã Duyên H. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo Trần Quang N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên H mời về trụ sở làm việc và bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản và đã thu giữ số tiền bị cáo trộm là 2.200.000 đồng và 07 thẻ căn cước công dân, 05 giấy chứng minh nhân dân, 02 giất phép lái xe số giấy tờ này đã trả lại cho ngay cho khách sạn Hải Dương.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS-HS ngày 22/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên H truy tố bị cáo Trần Quang N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 06/7/2023 bị hại Nguyễn Giang T trình bày: Bị hại đã nhận lại đủ số tiền 2.200.000 đồng và 07 thẻ căn cước công dân, 05 giấy chứng minh nhân dân, 02 giấy phép lái xe của khách lưu trú tại khách sạn, nên về trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì, về trách nhiệm hình sự bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

- Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang N từ 06 ( sáu ) tháng đến 09 ( chín ) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng và về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên H đã trả lại xong và bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị.

Bị cáo không phát biểu ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng, trong thời gian tạm giam bị cáo đã ăn năn, hối hận xin Hội đồng xét xử bị cáo án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra thu thập được. Trên cơ sở đánh giá, xem xét toàn diện các chứng cứ có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 03 giờ 20 phút ngày 25/5/2023 bị cáo Trần Quang N đã có hành vi lén lúc lấy trộm tài sản của khách sạn Hải Dương do nhân viên Nguyễn Giang T được giao quản lý trược tiếp tài sản mà bị cáo lấy trộm được là 2.200.000 đồng và 07 thẻ căn cước công dân, 05 giấy chứng minh nhân dân, 02 giấy phép lái xe của khách lưu trú tại khách sạn.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đã xâm phạm đến tài sản của bị hại, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo là một thanh niên có đầy đủ sức khỏe, có khả năng lao động kiếm tiền để tiêu xài và bị cáo cũng đã từng làm bảo vệ cho khách sạn Hải Dương nhưng bị cáo đã nghỉ làm, thể hiện bị cáo lười lao động, muốn có tiền tiêu xài bằng cách đi trộm tài sản của người khác để tiêu xài mà không cần lao động. Do đó cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Giang T là nhân viên khách sạn được giao quản lý trược tiếp tài sản đã nhận đủ tiển và 07 thẻ căn cước công dân, 05 giấy chứng minh nhân dân, 02 giấy phép lái xe, không còn yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên H đã trả lại số tiền 2.200.000 đồng cho bị hại Nguyễn Giang T và chiếc xe mô tô biển số 84F1 – 072.70 cho chủ sở hữu phương tiện nên không xem xét.

Về tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều là chứng cứ hợp pháp.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm luận tội và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy: Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các tình tiết và các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Trần Quang N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang N phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù của bị cáo Trần Quang N được tính từ ngày 25/5/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Trần Quang N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ