- Tranh chấp gì? án hình sự — "A và B Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HS-ST Ngày: 15/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Tám.
2. Bà Đặng Thị Tiềm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa có: Ông Võ Thành Đ, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét sử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: A. Giới tính: Nam.
- Tên gọi khác: T.
- Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1997, tại tỉnh Tiền Giang.
- Đăngký hộkhẩuthườngtrú: ấpB,xã C,huyệnCai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Công nhân.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- Trình độ văn hóa: 07/12.
* Quan hệ gia đình:
- Cha: Đ1, sinh năm 1971.
- Mẹ: T1, sinh năm 1975.
- Anh, em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.
- Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, Tiền sự: Không.
- Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ và lớn lên sống cùng gia đình tại ấp B, xã C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2022.
Họ và tên: B. Giới tính: Nam.
- Tên gọi khác: Đ.
- Sinh ngày 05 tháng 6 năm 2002, tại tỉnh Tiền Giang.
- Đăngkýhộkhẩuthườngtrú: ấp D,xãF,huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Không
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
- Trình độ văn hóa: 08/12.
* Quan hệ gia đình:
- Cha: L1, sinh năm 1965.
- Mẹ: N1, sinh năm 1970.
- Anh, em ruột có 03 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.
- Bị cáo chưa có vợ, con.
- Tiền án, tiền sự: không.
- Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ và lớn lên sống cùng gia đình tại ấp D, xã F, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2022.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Liêng Hoàng D, sinh năm 2002 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T1, tỉnh Tiền Giang.
2. Anh Lê Â, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3. Anh Đỗ N3, sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã M, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
4. Bà Huỳnh R, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã M, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
A, sinh ngày 22/12/1997, cư trú: ấp B, xã C, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang và B, sinh ngày 05/6/2002, cư trú: ấp D, xã F, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là bạn bè của nhau và cùng nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 27/10/2022, A điều khiển xe mô tô biển số 63V1 - 3459 của mình chở Đ từ khách sạn Q thuộc xã P, huyện Cai Lậy đến điểm game bắn cá của bà Huỳnh R, sinh 1977, cư trú: Ấp K, xã M, thị xã Cai Lậy để chơi game thì gặp H5 (không rõ nhân thân, địa chỉ), Lê Â, sinh ngày 30/3/1996, cư trú: ấp B, xã C, huyện Cai Lậy, Đỗ N3, sinh ngày 01/01/1989, cư trú: Ấp K, xã M, thị xã Cai Lậy, Liêng Hoàng D, sinh năm 2002, cư trú ấp H, xã T, huyện T1, tỉnh Tiền Giang. Tại đây H5 đưa 100.000 đồng, rủ A góp thêm 100.000 đồng và kêu Đ đi mua ma túy về sử dụng chung thì A đồng ý. Do không còn tiền nên A hỏi mượn chị R 100.000 đồng, chị R để tiền trên bàn game. H5 lấy tiền và mượn xe mô tô của A đến khu vực cầu kinh Kháng Chiến thuộc Ấp K, xã M mua một bịch ma túy đá giá 200.000 đồng của một người tên “Má” (không rõ nhân thân, địa chỉ) mang về điểm game bắn cá. H5 chỉ Đ lấy nỏ thủy tinh để dưới nền nhà để làm bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy.
Đ dùng bật lửa đốt bịch ma tuý đứt làm hai, đổ ma tuý vào nỏ, nấu chín ma tuý đưa cho H5 sử dụng trước, đến Đ tự tiêm và sử dụng, rồi Đ tiêm ma tuý cho A sử dụng. Khi A sử dụng xong thì Đ để dụng cụ sử dụng ma tuý trên bàn game, dùng tay đẩy về hướng Â, thấy  sử dụng thì N lấy sử dụng. Đến 15 giờ cùng ngày Đội Cảnh sát hình sự Công an thị xã Cai Lậy phối hợp Công an xã Mỹ Phước Tây đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đối với A và Đ. Riêng đối tượng H5 đã bỏ trốn.
Kết quả test ma túy xác định: A, B, Lê Â, Đỗ N3 dương tính với ma túy. Riêng Liêng Hoàng Dâm tính với ma túy.
Vật chứng của vụ án:
- 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng và nỏ thủy tinh có một đầu to dạng phễu. Bên trong phễu có chất rắn màu trắng nghi là ma túy;
- 02 bật lửa loại sử dụng gas (01 màu đỏ bị mất phần đầu và 01 màu vàng);
- 02 đoạn ống nhựa màu trắng không đều nhau;
- 01 xe mô tô biển số 63V1-3459.
Bản kết luận giám định số: 111/KL/KTHS, ngày 29/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0395 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 15/CT-VKSTXCL ngày 03/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố: A, B về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo A và B thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Liêng Hoàng D, Lê Â, Đỗ N3 không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo A, B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo A từ 07 năm 6 tháng – 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo B từ 07 – 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 111 ghi ngày 29/10/2022, có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Tấn Liễu (Giám Định Viên), Trần Thanh Dũng (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trường An (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong dạng phễu, một chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng; 02 bật lửa loại sử dụng gas (01 màu đỏ bị mất phần đầu và 01 màu vàng); 02 đoạn ống nhựa màu trắng không đều nhau. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 63V1-3459.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 15 giờ ngày 27/10/2022 tại điểm game bắn cá của bà Huỳnh R thuộc Ấp K, xã M, thị xã Cai Lậy, A và B có hành vi tổ chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy, khối lượng ma túy sử dụng 0,0395 gam, loại Methamphetamine. Kết luận giám định số 111/KL/KTHS, ngày 29/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0395 gam, loại Methamphetamine. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các bản tự khai, biên bản hỏi cung bị can ban đầu của cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh hiện trường cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với cáo trạng đã nêu. Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo A và B đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng với mục đích thỏa mãn cơn nghiện các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nên cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, tự phát, trước khi thực hiện hành vi các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công từ trước. Xét về vai trò và mức hình phạt đối với từng bị cáo thì thấy rằng bị cáo A là người thực hành, giữ vai trò chính trong việc phạm tội. Cụ thể, khi được H5rủ góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng thì A đồng ý và đã tham gia góp 100.000 đồng cùng với H5, còn Đ giữ vai trò giúp sức là người nhận tiền đi mua ma túy, làm dụng cụ sử dụng ma túy và nấu ma túy để H5, Đ, A, Â, Ncùng sử dụng nên xét về vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội thì bị cáo A phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành th khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi xem xét hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bìa thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 111 ghi ngày 29/10/2022, có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Tấn Liễu (Giám Định Viên), Trần Thanh Dũng (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trường An (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong dạng phễu, 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng; 02 bật lửa loại sử dụng gas (01 màu đỏ bị mất phần đầu và 01 màu vàng); 02 đoạn ống nhựa màu trắng không đều nhau là vật chứng của vụ án thuộc danh mục hàng cấm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô biển số 63V1-3459. Kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo A nhưng vào ngày 27/10/2022 bị cáo đã giao xe cho bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội là đi mua ma túy tổ chức sử dụng. Xét thấy, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người phụ nữ có hành vi bán ma túy cho B do chưa rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Đối với người tên “H5” có hành vi rủ A tham gia góp tiền và yêu cầu B đi mua ma túy về cùng tổ chức sử dụng ngày 27/10/2022 có dấu hiệu đồng phạm với A và Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên do chưa xác định được nhân thân, lai lịch và chưa làm việc được với H5nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Huỳnh R là chủ điểm game bắn cá có đưa 100.000 đồng nhưng không biết việc A và Đ lấy tiền mua ma tuý về sử dụng. Bà R cũng không biết việc A và Đ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại điểm game do mình quản lý. Do đó, hành vi của bà R không có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với Đỗ N3 và Lê Â có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo A, B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố các bị cáo A, B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 111 ghi ngày 29/10/2022, có các chữ ký ghi họ tên: Huỳnh Tấn Liễu (Giám Định Viên), Trần Thanh Dũng (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trường An (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong dạng phễu, một chai nhựa trong suốt có nắp màu trắng, trên nắp có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng; 02 bật lửa loại sử dụng gas (01 màu đỏ bị mất phần đầu và 01 màu vàng); 02 đoạn ống nhựa màu trắng không đều nhau. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 63V1-3459.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2023 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc các bị cáo A, B mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Các bị cáo, người liên quan anh Liêng Hoàng D, Lê Â, Đỗ N3 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người liên quan bà Huỳnh R có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSNDTXCai Lậy; - Cơ quan THADSTX Cai Lậy; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Thị Hằng Ni |