vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 15/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Quý A phạm tội: Làm nhục người khác.

Về hình phạt chính: Xử phạt: Hà Quý A 07 (Bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hà quý nhân - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Quý A phạm tội: Làm nhục người khác.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN A DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày: 15/02/2022

A DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN A DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình

- Các Hội thẩm A dân: Bà Ngô Thị Yêm

Ông Nguyễn Hữu Đệ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng- Cán bộ Tòa án A dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát A dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Luân- Kiểm sát viên

Ngày 15/02/2022, tại Trụ sở Tòa án A dân huyện Đông Anh- Thành phố Hà Nội xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2022/TLST-HS ngày 25/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HS ngày 28/01/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Quý A, sinh năm 1996; Hộ khẩu thường trú: Khu X, xã Y, huyện Z, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện nay: Thôn X1, xã Y1, huyện Z1, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hà Văn C và bà Nguyễn Thị D; Theo danh chỉ bản số 653 lập ngày 29/11/2021 của Công an huyện Đông Anh xác định: Tiền án tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Bị hại: Chị Nguyễn Ngọc B, sinh năm 2000.

Trú tại: Khu phố X2, phường Y2, thành phố Z2, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng đầu năm 2020, chị Nguyễn Ngọc B và Hà Quý A có quan hệ tình cảm với nhau. Trong thời gian yêu nhau, chị B nhiều lần đến phòng trọ của A tại thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội chơi. Tại đây, cả hai đã nhiều lần tự nguyện quan hệ tình dục. Trong vài lần quan hệ tình dục giữa hai người, A có sử dụng điện thoại của mình để chụp ảnh và quay video ghi lại làm kỷ niệm. Một thời gian sau, A và chị B xảy ra mâu thuẫn, bị gia đình chị B ngăn cấm nên chị B đòi chia tay. A nhiều lần níu kéo mong chị B không chia tay nhưng không được.

Đến ngày 10/5/2021, do bực tức vì không níu kéo được tình cảm của chị B, A đã nảy sinh ý định phát tán các video quan hệ tình dục giữa hai người và hình ảnh khỏa thân của chị B lên mạng Internet để hạ thấp danh dự, A phẩm của chị B nhằm buộc chị B phải quay lại yêu A. Sau đó, A sử dụng máy tính cá A truy cập mạng internet rồi đăng nhập với tài khoản Gmail có tên: [email protected], tiếp đến A dùng tài khoản này đăng 02 đoạn video quan hệ tình dục giữa A và chị B, các hình ảnh khỏa thân của chị B kèm theo các thông tin có liên quan đến chị B lên hai trang Web đen là: “tuoi69z.com” và “Siêu khungz.net”.

Đến khoảng 05 giờ ngày 13/5/2021, chị B phát hiện trên trang Web: “tuoi69z.com” có đăng tải 01 đoạn video, kèm theo hình ảnh khỏa thân của mình nên đã đến cơ quan Công an trình báo do thấy ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và A phẩm của mình.

Quá trình điều tra tạm giữ của Hà Quý A: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL (Kèm theo 01 sạc và 01 chuột không dây); 01 Modem nhãn hiệu FPT; 01 điện thoại Iphone X, màu trắng không sim (Bên trong có 07 ảnh và 02 video liên quan) và 01 USB nhãn hiệu SanDisk, màu đỏ đen dung lượng 8Gb.

Ngày 24/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra– Công an huyện Đông Anh đã có Công văn đề nghị Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao– Công an thành phố Hà Nội cung cấp các thông tin liên quan đến các trang web “tuoi69z.com” và “Siêu khungz.net”, kết quả xác định: Các webside trên đều truy cập được, có địa chỉ IP máy chủ đặt tại Mỹ và đều đăng tải các video clip và hình ảnh khỏa thân với nội dung đồi trụy.

Tiếp đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra– Công an huyện Đông Anh Quyết định trưng cầu các cơ quan chuyên môn giám định 02 đoạn video và 07 hình ảnh lưu giữ trong điện thoại của Hà Quý A:

- Tại Bản kết luận giám định số 2353 ngày 28/9/2021 của Sở văn hóa và thể thao thành phố Hà Nội kết luận: 02 video clip có nội dung khiêu dâm, đồi trụy thuộc loại văn hóa phẩm cấm lưu hành; 03 ảnh có nội dung khiêu dâm thuộc loại văn hóa phẩm cấm lưu hành; 04 ảnh không có nội dung khiêu dâm đồi trụy.

- Tại Bản kết luận giám định số 5115 ngày 08/9/2021 của Viện khoa học hình sự- Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tập tin video gửi giám định; Không tìm thấy các dấu vết, cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 06 tập tin hình ảnh; 01 tập tin hình ảnh còn lại thì không xác định được nội dung có bị cắt, ghép, chỉnh sửa hay không; Các tập tin gửi giám định gồm có 096 tập tin có tổng dung lượng là 0,2041GB.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Hà Quý A khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu.

Đối với 01 máy tính xách tay kèm theo phụ kiện (Sạc và chuột máy tính), 01 Modem, 01 điện thoại Iphone X và 01 USB lưu giữ hình ảnh liên quan tạm giữ của Hà Quý A đều là vật chứng của vụ án, chuyển Tòa án A dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Về dân sự: Chị Nguyễn Ngọc B không yêu cầu bồi thường về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Hà Quý A.

Cáo trạng số 11/CT-VKSĐA ngày 13/01/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát A dân huyện Đông Anh quyết định truy tố Hà Quý A về tội: Làm nhục người khác theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Hà Quý A khai nhận tội và thừa nhận toàn bộ hành vi đăng tải 02 đoạn video quan hệ tình dục giữa bị cáo và chị B, các hình ảnh khỏa thân của chị B kèm theo các thông tin có liên quan đến chị B lên 02 trang Web đen nhằm mục đích hạ thấp danh dự, A phẩm của chị B như Cáo trạng của Viện kiểm sát A dân huyện Đông Anh đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn, hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo cải tạo trở thành người tốt cho xã hội.

Bị hại chị Nguyễn Ngọc B vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát A dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Hà Quý A từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết do bị hại không có yêu cầu về phần bồi thường dân sự.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 máy tính xách tay kèm theo phụ kiện (Sạc và chuột máy tính); 01 Modem; 01 điện thoại Iphone X không sim thu giữ của bị cáo do sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội.

+ Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB thu giữ của bị cáo chứa hình ảnh liên quan đến vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát A dân huyện Đông Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại cơ quan điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Ngày 10/5/2021, tại thôn Đoài, xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, bị cáo Hà Quý A đã có hành vi sử dụng mạng viễn thông và phương tiện điện tử đăng tải các video quan hệ tình dục và ảnh khỏa thân của chị Nguyễn Ngọc B lên 02 trang Web đen nhằm mục đích hạ thấp danh dự, A phẩm, uy tín của chị B đối với người thân, gia đình, bạn bè và nơi đang sinh hoạt học tập.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không chỉ xâm phạm đến danh dự, A phẩm, tâm lý, cuộc sống riêng tư của người khác được luật hình bảo vệ mà còn xâm phạm đến thuần phong mỹ tục và truyền thống văn hóa của dân tộc, và xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về việc duy trì, phát triển nếp sống văn hóa văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra, biết rõ bị hại là người chua lập gia đình, đang học tập, sinh hoạt trong môi trường giáo dục sư phạm song do lối sống buông thả, thiếu tu dưỡng, sự suy đồi về đạo đức, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

Do đó, hành vi của bị cáo Hà Quý A phạm tội: Làm nhục người khác. Tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự. Nội dung Điều luật quy định:

Điều 155:

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng A phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

…

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.”

Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử, có mức hình phạt thỏa đáng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời đấu tranh, tuyên truyền, giáo dục, phòng chống tội phạm nói chung và là cần thiết.

[3] Về A thân và tiền án, tiền sự của bị cáo: Bị cáo có A thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại có yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Khi lượng hình, Tòa án xét đến A thân, tính chất và mức độ thực hiện hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng. Cụ thể: Giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ tình cảm nam nữ xuất phát từ tình yêu và sự tự nguyện giữa hai bên. Khi bị bị hại khước từ về mặt tình cảm và không còn biện pháp nào khác để níu kéo, tính hiếu thắng, bản năng chiếm đoạt của bị cáo hình thành cùng cảm xúc và tâm lý bột phát. Sự bế tắc về tâm lý, coi thường A phẩm, danh dự của người khác dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tổng thể vụ án, cường độ và mức độ đăng tải hình ảnh của bị hại không cao, chưa rộng rãi. Bị cáo có A thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án A dân tối cao cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội trở thành người tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các điều kiện liên quan đến bị cáo thì không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để:

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 máy tính xách tay kèm theo phụ kiện (Sạc và chuột máy tính); 01 Modem; 01 điện thoại Iphone X không sim thu giữ của bị cáo do sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội;

- Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB thu giữ của bị cáo chứa hình ảnh liên quan có giá trị chứng minh tội phạm.

[9] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát A dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Quý A phạm tội: Làm nhục người khác.

2. Về hình phạt chính:

Căn cứ Điểm e Khoản 2 Điều 155; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Hà Quý A 07 (Bẩy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Hà Quý A cho Ủy ban A dân xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng vụ án:

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự;

+ Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 máy tính xách tay kèm theo phụ kiện (Sạc và chuột máy tính); 01 Modem; 01 điện thoại Iphone X, không sim (Chi tiết, tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đông Anh với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh);

+ Lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB có giá trị chứng minh tội phạm.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ