- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Văn C Tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày 28 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Luân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hoàng Giang;
Bà Trần Ngọc Đ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Đ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2021/TLST - HS ngày 07 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn C, sinh năm 1991. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S (đã chết) và bà Trần Thị T; bị cáo là con út trong gia đình, có tất cả 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1986; gia đình và bản thân bị cáo không thuộc diện chính sách hay có công với Đảng và Nhà nước; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng bắt quả tang và ra Quyết định tạm giữ và gia hạn tạm giữ tổng cộng 09 ngày kể từ ngày 28/12/2020 đến ngày 06/01/2021. Ngày 06/01/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam bị cáo cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978
- Anh Trần Văn N, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
(Những người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 28/12/2020 bị cáo Lê Văn C sinh năm 1991 cư trú Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang đem ma túy đá đến căn nhà hoang của ông Lưu Văn C thuộc Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang để sử sụng. Khi đến căn nhà hoan C điện thoại rủ Trần Văn N, sinh năm 1998 cư trú cùng ấp đến cùng sử dụng. Sau đó, Lê Văn C thấy Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978 cư trú cùng ấp đi ngang qua căn nhà hoang nên C rủ Đ cùng vào sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày Công an huyện Giồng Riềng phối hợp với Công an xã Ngọc Hòa đến kiểm tra bắt quả tang thu giữ 10 bịch ma túy đá và đồ vật liên quan đến việc sử dụng chất ma túy, Lê Văn C khai nhận số ma túy này là mua của người thanh niên không rõ địa chỉ ở Cảng cá Tắc Cậu (huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) với số tiền 500.000 đồng.
Trong quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, bị cáo C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Giồng Riềng đã thu giữ gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI1: 356418118382864, IMEI2: 356419118382862 (IMEI bên ngoài máy: 356418/11/838286/4) cùng 01 sim số 0868548019, đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng hoạt động.
- 01 vỏ gói thuốc nhãn hiệu HERO đã qua sử dụng, dùng để đựng 10 bịch nylon nghi là ma túy.
- 02 cây kéo gồm 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi tù có hình răn và 01 cây kéo lưỡi kim loại, cán nhựa màu đỏ. Tất cả đã qua sử dụng.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 bình thủy tinh có đầu chụp bằng nhựa, nắp xanh; 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu trắng.
- 01 bậc lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- 02 vỏ nylon đã cắt một đầu, gồm: 01 vỏ có kích thước khoảng 3,1 x 1,2 cm và 01 vỏ có kích thước khoảng 1,4 x 2,5 cm, tất cả đã qua sử dụng.
- 10 bịch nylon hàn kín hai đầu, bên trong các bịch có chứa nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất, nghi là chất ma túy đá, gồm: 02 bịch có kích thước khoảng 2,4 x 1,3 cm; 02 bịch có kích thước khoảng 2,4 x 1,2 cm; 02 bịch có kích thước khoảng 2,2 x 1,3 cm; 01 bịch có kích thước khoảng 2,9 x 1,0 cm; 01 bịch có kích thước khoảng 2,4 x 1,4 cm; 01 bịch có kích thước 2,3 x 1,3 cm; 01 bịch có kích thước khoảng 2,3 x 1,2 cm, được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của người bị bắt Lê Văn C, Nguyễn Văn Đ, Trần Văn N. Người chứng kiến Huỳnh Văn N, Nguyễn Trường T, Điều tra viên Đỗ Chí T chữ ký của ông Đoàn Vũ T - Phó trưởng Công an xã và dấu mọc đỏ của Công an xã Ngọc Hòa huyện Giồng Riềng. Tất cả đều của Lê Văn C.
* Tại bản kết luận giám định số: 1105/KL-KTHS ngày 31/12/2020 của Phòng Kỹ Thuật Hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, đã kết luận:
- Nhiều hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 10 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8617 gam (Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn V và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Gồm có: Nhiều hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8422 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số: 1105/2020.
Tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 05/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, của bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định nêu trên, đề nghị:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn C mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn C mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm:
Đề nghị tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI1: 356418118382864, IMEI2: 356419118382862 (IMEI bên ngoài máy: 356418/11/838286/4) cùng 01 sim số 0868548019, đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng hoạt động.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy những đồ vật liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng như sau:
- 01 vỏ gói thuốc nhãn hiệu HERO đã qua sử dụng, dùng để đựng 10 bịch nylon nghi là ma túy.
- 02 cây kéo gồm 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi tù có hình răn và 01 cây kéo lưỡi kim loại, cán nhựa màu đỏ. Tất cả đã qua sử dụng.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 bình thủy tinh có đầu chụp bằng nhựa, nắp xanh; 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu trắng.
- 01 bậc lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- 02 vỏ nylon đã cắt một đầu, gồm: 01 vỏ có kích thước khoảng 3,1 x 1,2 cm và 01 vỏ có kích thước khoảng 1,4 x 2,5 cm, tất cả đã qua sử dụng.
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn V và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Gồm có: Nhiều hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8422 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số: 1105/2020.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS ngày 05/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng).
Được nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C khai nhận:
Ngày 28/12/2020 bị cáo có mua 11 bịt ma túy tại Cảng cá Tắc Cậu (huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang) của người thanh niên không rõ lai lịch với số tiền 500.000 đồng. Bị cáo mua để sử dụng dần. Khoảng 9 giờ 40 phút ngày 28/12/2020 bị cáo đem ma túy đá đến căn nhà hoang của ông Lưu Văn C (thuộc Ấp C, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang) để sử sụng. Khi đến căn nhà hoang C điện thoại rủ Trần Văn N, sinh năm 1998 (cư trú cùng ấp) đến để cùng sử dụng chất ma túy, dụng cụ và chất ma túy là do bị cáo cung cấp, chuẩn bị. Sau đó khi chuẩn bị sử dụng chất ma túy, bị cáo thấy Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1978 (cư trú cùng ấp) đi ngang qua căn nhà hoang nên C rủ Đ cùng vào sử dụng trái phép chất ma túy. Khi các đối tượng sử đang sử dụng chất ma túy thì khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày Công an huyện Giồng Riềng phối hợp với Công an xã Ngọc Hòa đến kiểm tra bắt quả tang thu giữ 10 bịch ma túy đá và đồ vật liên quan đến việc sử dụng chất ma túy.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Bị cáo Lê Văn C đã tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine để sử dụng với số lượng còn lại sau giám định là 0,8422 gam. Ngoài ra, khi mua được ma túy bị cáo đã rủ và cung cấp chất ma túy, dụng cụ để anh N, anh Đ sử dụng, riêng anh Đ mặc dù bị cáo không rủ trước đó nhưng khi anh Đ đi ngang qua bị cáo đã rủ anh Đ vào cùng sử dụng, do đó trường hợp của bị cáo là phạm tội đối với 02 người trở lên. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI1: 356418118382864, IMEI2: 356419118382862 (IMEI bên ngoài máy: 356418/11/838286/4) cùng 01 sim số 0868548019, đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng hoạt động.
Tịch thu tiêu hủy những đồ vật liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng như sau:
- 01 vỏ gói thuốc nhãn hiệu HERO đã qua sử dụng, dùng để đựng 10 bịch nylon nghi là ma túy.
- 02 cây kéo gồm 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi tù có hình răn và 01 cây kéo lưỡi kim loại, cán nhựa màu đỏ. Tất cả đã qua sử dụng.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 bình thủy tinh có đầu chụp bằng nhựa, nắp xanh; 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu trắng.
- 01 bậc lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- 02 vỏ nylon đã cắt một đầu, gồm: 01 vỏ có kích thước khoảng 3,1 x 1,2 cm và 01 vỏ có kích thước khoảng 1,4 x 2,5 cm, tất cả đã qua sử dụng.
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn V và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Gồm có: Nhiều hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8422 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số: 1105/2020.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS ngày 05/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng).
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 28/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI1: 356418118382864, IMEI2: 356419118382862 (IMEI bên ngoài máy: 356418/11/838286/4) cùng 01 sim số 0868548019, đã qua sử dụng không kiểm tra được tình trạng hoạt động.
Tịch thu tiêu hủy những đồ vật liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng như sau:
- 01 vỏ gói thuốc nhãn hiệu HERO đã qua sử dụng, dùng để đựng 10 bịch nylon nghi là ma túy.
- 02 cây kéo gồm 01 cây kéo bằng kim loại, lưỡi tù có hình răn và 01 cây kéo lưỡi kim loại, cán nhựa màu đỏ. Tất cả đã qua sử dụng.
- 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: 01 bình thủy tinh có đầu chụp bằng nhựa, nắp xanh; 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút màu trắng.
- 01 bậc lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
- 02 vỏ nylon đã cắt một đầu, gồm: 01 vỏ có kích thước khoảng 3,1 x 1,2 cm và 01 vỏ có kích thước khoảng 1,4 x 2,5 cm, tất cả đã qua sử dụng.
- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh Thủy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn V và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Gồm có: Nhiều hạt tinh thể trong suốt còn lại sau giám định có khối lượng là 0,8422 gam (đựng trong một bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số: 1105/2020.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS ngày 05/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/4/2021).
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Công an huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Luân |