vanban.org

Bản án 20/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần TA phạm tội:“Buôn bán hàng cấm".

Xử phạt: Trần TA 15 (Mười lăm) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/12/2019. Phạt bổ sung bị cáo: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Tuấn Anh - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần TA phạm tội:“Buôn bán hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HSST
Ngày: 19/02/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quảng Thái 2. Bà Trần Thanh Vân

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Điệp - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/HSST ngày 10/01/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXXST - HS ngày 04/02/2020 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần TA, sinh ngày 25/11/1991; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: thôn Lan Đình, xã VT, huyện TY, tỉnh YB. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Trần Anh T (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H (đã chết); Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất ; Vợ: Bùi Thị Bích D, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Có 1 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 7/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại

Trại tạm giam Công an tỉnh TN.

(Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời chứng kiến:

Anh Bùi Đức T, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 12, phường PĐP, thành phố TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 3 giờ 30 phút ngày 07/12/2019, tổ công tác của Đội Cảnh sát Kinh tế Công an thành phố TN đang tuần tra tại khu vực tổ 13, phường Đồng Quang, thành phố TN phát hiện một nam thanh niên mang theo 01 túi giả da màu đen và 01 ba lô màu xanh- đen có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Trần TA, sinh năm 1991, HKTT: xóm Lan Đình, xã VT, huyện TY, tỉnh YB. Qua kiểm tra trong túi giả da màu đen của TA mang theo chứa 50 (năm mươi) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ có giấy màu vàng, có dây màu xanh, ghi chữ nước ngoài nghi là pháo, trong ba lô màu xanh da trời đen của TA có chứa 03 (ba) vật có dạng khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm bên ngoài giống nhau, kích thước khoảng (15x15x15)cm, bên ngoài mỗi hộp bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài nghi là pháo và 265 (hai trăm sáu mươi lăm) vật dạng hình trụ tròn, chiều dài khoảng 05cm, đường kính khoảng 1cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu xanh, nghi là pháo. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an thành phố TN đã tiến hành mở niêm phong lấy mẫu giám định, cân xác định trọng lượng toàn bộ số vật nghi là pháo thu giữ của Trần TA được 9,8 kg.

Tại bản kết luận giám định số 1509 ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận:

- 50 (năm mươi) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ dài 03 cm, đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 03(ba) vật khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm bề ngoài giống nhau, kích thước khoảng 14,5cm x 14,5 cm x 15 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống trụ dài 15 cm, đường kính 2,4 cm là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 265(hai trăm sáu mươi lăm) vật dạng hình trụ tròn, chiều dài 07cm, đường kính khoảng 1,5 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu xanh là pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

Tại Cơ quan điều tra, Trần TA khai như sau: Trong quá trình làm thuê tại cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh, TA đã mua số pháo bị thu giữ nêu trên từ nhiều người, không rõ tên, địa chỉ của họ với tổng số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau khi mua được pháo, khoảng 19 giờ ngày 06 tháng 12 năm 2019, TA mang theo số pháo đó đi xe khách từ thành phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh đến thành phố TN mục đích bán cho một người quen trên mạng xã hội để kiếm lời. TA không biết tên địa chỉ của người này mà chỉ hẹn nhau giao dịch tại bến xe khách TN. Khi TA đến bến xe khách TN thì bị lực lượng Công an thành phố TN đang tuần tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời nhận tội của Trần TA phù hợp với các tài liệu đã thu thập được của Cơ quan điều tra như: biên bản bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án gồm:

Một thùng bìa catton đã được niêm phong bên trong có 9,8kg pháo nổ, hiện được bảo quản tại Công ty cổ phần cơ điện luyện kim TN - Chi nhánh mỏ đá Núi Voi; 01 túi giả da màu đen; 01 ba lô màu xanh da trời-đen, hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 28/CT- VKSTPTN, ngày 10/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố bị cáo Trần TA về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần TA phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trần TA, từ 15 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy:

- 50 (năm mươi) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ dài 03 cm, đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 03(ba) vật khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm bề ngoài giống nhau, kích thước khoảng 14,5cm x 14,5 cm x 15 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống trụ dài 15 cm, đường kính 2,4 cm là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 265(hai trăm sáu mươi lăm) vật dạng hình trụ tròn, chiều dài 07cm, đường kính khoảng 1,5 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu xanh là pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 01 túi giả da màu đen và 01 ba lô màu xanh đen.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần TA tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 3 giờ 30 phút ngày 07/12/2019, Trần TA mang 9,8kg pháo nổ đến bến xe khách TN thuộc khu vực tổ 13, phường Đồng Quang, thành phố TN để bán cho một người không quen biết nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát Kinh tế Công an thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của Trần TA đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng:

- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại mặt hàng. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo TA không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS.

. Về hình phạt: Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHH đối với bị cáo HĐXX thấy: Bị cáo đã nhận thức rõ được hành vi sai trái của mình, khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán nhằm mục đích thu lời bất chính, vì vậy cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 190 BLHS số tiền 20.000.000đ.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy:

- 50 (năm mươi) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ dài 03 cm, đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 03(ba) vật khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm bề ngoài giống nhau, kích thước khoảng 14,5cm x 14,5 cm x 15 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống trụ dài 15 cm, đường kính 2,4 cm là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 265(hai trăm sáu mươi lăm) vật dạng hình trụ tròn, chiều dài 07cm, đường kính khoảng 1,5 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu xanh là pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 01 túi giả da màu đen và 01 ba lô màu xanh đen.

. Những vấn đề khác: Về nguồn gốc số pháo bị thu giữ, TA khai mua của nhiều người không quen biết tại cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trần TA phạm tội:“Buôn bán hàng cấm".

Xử phạt: Trần TA 15 (Mười lăm) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/12/2019.

Phạt bổ sung bị cáo: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

2. Về vật chứng: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy:

- 50 (năm mươi) vật dạng hình bóng đèn tròn, phần hình trụ dài 03 cm, đường kính 2,7 cm, bên ngoài bọc giấy màu vàng, có in chữ nước ngoài và gắn sợi dây màu xanh, phần hình cầu có đường kính 4,1 cm, bên ngoài bọc giấy màu nâu là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 03(ba) vật khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm bề ngoài giống nhau, kích thước khoảng 14,5cm x 14,5 cm x 15 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, bên trong có 36 ống trụ dài 15 cm, đường kính 2,4 cm là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

- 265(hai trăm sáu mươi lăm) vật dạng hình trụ tròn, chiều dài 07cm, đường kính khoảng 1,5 cm, bên ngoài bọc giấy màu đỏ, ghi chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu xanh là pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).

(Hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Công ty cổ phần cơ điện luyện kim TN - Chi nhánh mỏ đá Núi Voi.)

- 01 túi giả da màu đen và 01 ba lô màu xanh đen.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 123 ngày 14/01/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ