- Tranh chấp gì? án hình sự — "190.Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 L…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HS-ST. Ngày 20 - 02 - 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bµ Nguyễn Thị Huê và ông Trịnh Văn Chi. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Là Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang H, sinh năm 1996 tại Hòa Bình; nơi ĐKNKTT: Khu 13, thị trấn CN, huyện LT, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: Số nhà 66, ĐM, phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm 1966; con bà: Vũ Thị K, sinh năm 1971; vợ: Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1996; con: Có một con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/01/2020 đến ngày 09/01/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang được tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1966; trú tại: Khu 13, thị trấn CN, huyện LT, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1996. Có mặt.
- Anh Nhữ Mạnh Tr, sinh năm 1988. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2019, Nguyễn Quang H gặp và quen biết với một nam thanh niên có tên là Bách ở khu vực Bệnh viện Bạch Mai, cơ sở 2 thuộc địa bàn xã Liêm Tuyền, thành phố Phủ Lý và cả hai xin số điện thoại của nhau để liên lạc. Đến ngày 30/12/2019, người thanh niên tên Bách gọi điện cho Nguyễn Quang H đặt mua của H 313 quả pháo nổ với giá 3.570.000 đồng, H đồng ý. Sau đó, H lên mạng xã hội tìm hiểu và đặt mua các loại hóa chất gồm: Lưu huỳnh (S); Kaliclorat (KClO3), Cacbon (C), Magiê (Mg), Canxi cacbonat (CaCO3), Nhôm (Al), Bari nitrat [Ba (NO3)2] và mua ống nước, nắp bịt ống nước nhựa PVC loại phi 21mm, 27mm, 42mm; lưỡi cưa và 02 lọ keo gắn hết tổng số tiền 2.800.000 đồng rồi mang về chế tạo thuốc pháo và pháo nổ tại phòng trọ của mình. H tự pha chế các nguyên liệu đã mua gồm Kaliclorat (KClO3), Cacbon (C), Lưu huỳnh (S) theo tỷ lệ 3:3:1 rồi pha chế thêm hóa chất Magiê (Mg), Canxi cacbonat (CaCO3), Nhôm (Al), Bari nitrat [Ba(NO3)2] để tạo màu cho quả pháo khi nổ.
Về cách làm vỏ pháo và dây cháy chậm: H lấy cưa cắt nhỏ đoạn ống nhựa nước (nhựa PVC) phi 21mm, 27mm, 42mm ra thành nhiều đoạn nhỏ rồi lấy nắp dùng keo cố định, còn một đầu H dùng ống hút nhựa màu đen đổ thuốc pháo đã pha chế vào đoạn ống nước, dùng đinh đục thủng 01 lỗ trên nắp bịt rồi gắn nắp vào phần ống nước. Sau đó, H dùng cân tiểu ly để kiểm tra xem đủ trọng lượng chưa, nếu thiếu thì cho thêm thuốc pháo rồi dùng keo gắn cố định vị trí nắp bịt còn lại. Sau đó H lấy màng bọc thực phẩm rồi cho thêm thuốc pháo đã pha chế như trên rồi cuộn lại, cắt nhỏ làm dây cháy chậm, dùng tay đút dây cháy chậm vào phần vị trí đã được đục thủng trước đó và dùng keo gắn cố định. Với cách thức chế tạo như trên H đã sản xuất được 313 quả pháo nổ có tổng trọng lượng 11,4 kg.
Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 01/01/2020, Nguyễn Quang H điều khiển xe môtô biển kiểm soát 28L1-132.99 vận chuyển 313 quả pháo nổ đã sản xuất đựng trong thùng catton và cất giấu trong túi ba lô màu đen đến khu vực tái định cư thuộc thôn 5, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để bán cho Bách thì bị tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã Đinh Xá phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 thùng catton bên trong có 313 quả pháo, 12 dây cháy chậm, 01 balo màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei bên trong lắp 02 sim; 01 dao dọc giấy; 01 ống hút bằng nhựa màu đen; 01 cân tiểu ly màu bạc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS: 28L1-132.99 cùng đăng ký xe, 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quang H.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang H tại số 66 phố ĐM, phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện, thu giữ: 23 hộp nhựa bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được đánh số ký hiệu từ L1 đến L23; 02 túi nilon kích thước khoảng (08x12) cm bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được ký hiệu là G1,G2; 72 đoạn ống nhựa hình trụ đường kính 27mm, dài khoảng 3,5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 21mm, dài khoảng 5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 27mm, dài khoảng 5cm; 01 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 42mm, dài khoảng 8cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 25cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu trắng dài khoảng 20cm, đường kính cán nhựa khoảng 1,7cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 13cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 11cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 12cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 8cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm.
Tại bản Kết luận giám định số: 70/C09-P2 ngày 03/01/2020 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
- 313 vật hình trụ, một đầu được gắn dây ngòi đều là pháo nổ, khối lượng 11,4 kg.
- 12 dây dẫn cháy đều là dây ngòi có tác dụng dẫn lửa gây nổ pháo, khối lượng là 0,1 kg.
- Mẫu ký hiệu L9 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) và Ba(NO3)2 (bari nitrat), khối lượng 0,01 kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L11 KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), CaCO3 (canxi cacbonat), khối lượng 0,01 kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L15 KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) và Ba(NO3)2 (bari nitrat), khối lượng 0,09kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L16 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) khối lượng 0,08kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L20 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), CaCO3 (canxi cacbonat), khối lượng 0,01 kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L21 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) khối lượng 0,08kg (không phẩy không tám kilôgam) là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu L23 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) khối lượng 0,12kg là thuốc pháo.
- Mẫu ký hiệu G2 là KCLO3 (kali clorat), S (lưu huỳnh), Mg (Magiê) và Ba(NO3)2 (bari nitrat), khối lượng 0,02kg là thuốc pháo.
Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số: 07/CT-VKS-P2 ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Quang H, về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 thùng catton bên trong có 313 quả pháo, 12 dây cháy chậm; 01 dao dọc giấy; 01 balo màu đen; 01 ống hút bằng nhựa màu đen; 23 hộp nhựa bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được đánh số ký hiệu từ L1 đến L23; 02 túi nilon kích thước khoảng (08x12) cm bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được ký hiệu là G1,G2; 72 đoạn ống nhựa hình trụ đường kính 27mm, dài khoảng 3,5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 21mm, dài khoảng 5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 27mm, dài khoảng 5cm; 01 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 42mm, dài khoảng 8cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 25cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu trắng dài khoảng 20cm, đường kính cán nhựa khoảng 1,7cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 13cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 11cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 12cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 8cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei bên trong lắp 02 sim và 01 cân tiểu ly màu bạc.
Trả lại ông Nguyễn Văn V 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS: 28L1-132.99 cùng đăng ký xe.
Trả lại Nguyễn Quang H 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quang H.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện tương tự như bản cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã công bố tại phiên tòa. Bị cáo không tranh luận bào chữa gì, nhất trí với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn. Lời nói sau cùng bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn V trình bày: Chiếc xe mô tô BKS 28L1-132.99 là tài sản của ông, nguồn tiền mua xe là của ông, ông cho Nguyễn Quang H mượn xe làm phương tiện đi lại, song không biết H sử dụng xe vào việc vận chuyển pháo tự sản xuất mang đi bán. Nay ông đề nghị được xin lại xe để phục vụ cho sinh hoạt gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố: Những người tiến hành tố tụng này đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Với động cơ vụ lợi, Nguyễn Quang H đã bỏ ra 2.800.000 đồng để mua dụng cụ, nguyên vật liệu mang về nơi ở của mình tại số 66, phố ĐM, phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định sản xuất được 313 quả pháo nổ. Khoảng 16 giờ ngày 01/01/2020, Nguyễn Quang H vận chuyển 313 quả pháo nổ đã sản xuất được, với tổng trọng lượng 11,4 kg đến khu tái định cư thuộc thôn 5, xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để bán cho nam thanh niên tên Bách thì bị Phòng cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã Đinh Xá, thành phố Phủ Lý phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Quang H đã phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[3] Đánh giá về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quang H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, buôn bán một số loại hàng cấm, trong đó có pháo nổ, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa bàn thành phố Phủ Lý. Bị cáo thực hiện hành vi bởi lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải xét xử bằng bản án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Đánh giá về hình phạt:
- Hình phạt chính: Để quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hiện đang là sinh viên, sống phụ thuộc vào gia đình, ông bà nội bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng bằng khen, huân chương kháng chiến, bố mẹ bị cáo trong quá trình công tác đều có thành tích xuất sắc được tặng thưởng bằng khen. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nơi cư trú, có lý lịch rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân hiện đang là sinh viên, sau khi xảy ra vụ việc đã hợp tác khai báo giúp cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng điều tra xử lý vụ việc. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đang là sinh viên, sống phụ thuộc vào gia đình, không có nguồn thu nhập, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về các tình tiết khác:
- Đối với chị Nguyễn Thị Huyền T (vợ Nguyễn Quang H), quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định việc sản xuất, bán pháo nổ là do Nguyễn Quang H trực tiếp thực hiện, chị T hoàn toàn không biết, nên không xử lý về trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Thị Huyền T với vai trò đồng phạm với Nguyễn Quang H là phù hợp pháp luật.
- Đối với nam thanh niên có tên là Bách là người đã đặt mua 313 quả pháo nổ của Nguyễn Quang H. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành xác minh song không xác định được nhân thân, lai lịch của người thanh niên tên Bách. Ngoài lời khai của H, không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[6] Về vật chứng:
- Đối với 01 thùng catton bên trong có 313 quả pháo, 12 dây cháy chậm; 01 balo màu đen; 01 dao dọc giấy; 01 ống hút bằng nhựa; 23 hộp nhựa bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được đánh số ký hiệu từ L1 đến L23; 02 túi nilon kích thước khoảng (08x12) cm bên trong đựng hợp chất dạng bột và viên nén được ký hiệu là G1,G2; 72 đoạn ống nhựa hình trụ đường kính 27mm, dài khoảng 3,5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 21mm, dài khoảng 5cm; 04 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 27mm, dài khoảng 5cm; 01 đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 42mm, dài khoảng 8cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 25cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu trắng dài khoảng 20cm, đường kính cán nhựa khoảng 1,7cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 13cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 11cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm; 01 lưỡi cưa sắt dài khoảng 12cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 8cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm là loại hàng cấm và công cụ, nguyên liệu để sản xuất pháo, đựng pháo cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei bên trong lắp 02 sim; 01 cân tiểu ly màu bạc là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS: 28L1-132.99 cùng đăng ký xe là tài sản của ông Nguyễn Văn V (bố đẻ H), ông V đưa xe cho H để làm phương tiện đi lại phục vụ việc học hành. Ông V không biết H sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện phạm tội. Do vậy cần trả lại cho ông Nguyễn Văn V.
- Đối với một chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quang H là giấy tờ của H cần trả lại cho H.
[7] Về án phí: Bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Áp dụng luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
[2] Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho Ủy ban nhân dân phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy: 313 quả pháo nổ, một đầu được gắn dây ngòi và 12 dây ngòi, được đựng trong 01 hộp bìa cát tông được niêm phong bằng các chữ ký; các chất bột và các loại viên nén được đựng trong 23 hộp nhựa, được ký hiệu lần lượt từ L1 đến L23. Chất bột và các viên nén, được đựng trong 02 túi ni lông ký hiệu lần lượt là G1,G2, được đựng trong một thùng cát tông được niêm phong bằng các chữ ký; 01 (một) thùng bìa catton kích thước khoảng 30cmx 15cmx10cm được dán niêm phong có chữ ký của người bị bắt, người chứng kiến, điều tra viên, đại diện chính quyền địa phương bên trong đựng 01 dao dọc giấy vỏ màu cam; 01 ống hút bằng nhặ màu đen; 01 balo màu đen đã qua sử dụng; 72 (bẩy mươi hai) đoạn ống nhựa hình trụ đường kính 27mm, dài khoảng 3,5cm; 04 (bốn) đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 21mm, dài khoảng 5cm; 04 (bốn) đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 27mm, dài khoảng 5cm; 01 (một) đoạn ống nhựa hình trụ bịt hai đầu đường kính 42mm, dài khoảng 8cm; 01 (một) lưỡi cưa sắt dài khoảng 25cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu trắng dài khoảng 20cm, đường kính cán nhựa khoảng 1,7cm; 01 (một) lưỡi cưa sắt dài khoảng 13cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 11cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm; 01 (một) lưỡi cưa sắt dài khoảng 12cm, rộng khoảng 1,7cm có cán nhựa tròn màu xanh dài khoảng 8cm, đường kính cán nhựa khoảng 2cm.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei vỏ màu xanh, bên trong lắp 02 sim; 01 cân tiểu ly màu bạc được đựng trong 01 (một) thùng bìa catton kích thước khoảng 30cmx 15cmx10cm được dán niêm phong có chữ ký của người bị bắt, người chứng kiến, điều tra viên, đại diện chính quyền địa phương.
- Trả lại ông Nguyễn Văn V: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamahamàu đen bạc, BKS: 28L1-132.99 cùng đăng ký xe số 008461.
- Trả lại Nguyễn Quang H: 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Quang H.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 21/01/2020).
[4] Án phí: Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - CQ CSĐT Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - CQ CSĐT CA thành phố Phủ Lý; - Chi cục Thi hành án dân sự TP Phủ Lý; - CQ THAHS có thẩm quyền; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ đến vụ án; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Xuyên |