- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Mai Đình N 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2019/HS-ST Ngày 25/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hân
Ông Nguyễn Đức Hào
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Kiên - Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnYên Thành tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trọng Hiếu - chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2019 tại Trụ sở tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên Mai Đình N - sinh ngày 15 tháng 4 năm 1981, tại xã L, huyện Y, tỉnh N. Nơi cư trú: xóm P, xã L, huyện Y, tỉnh N; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình M và bà Nguyễn Thị T; vợ Nguyễn Thị H và 03 con, con lớn nhất 13 tuổi nhỏ nhất 1 tuổi; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/12018 đến ngày 26/11/2018 sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 7 năm 2018, Mai Đình N đi đến khu vực xã Đ, huyện Y hỏi mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch cụ thể) 05 bánh pháo loại 49 quả với giá 500.000 đồng/1 bánh pháo, sau đó mang về nhà cất giấu.
Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 23 tháng 11 năm 2018, có một người đàn ông (không rõ lai lịch cụ thể) gọi điện thoại cho Mai Đình N hỏi mua 02 bánh pháo với giá 800.000 đồng/1 bánh và hẹn giao hàng ở Cầu T thuộc xã N, huyện Yên T thì N nhất trí. Đến 15 giờ cùng ngày một người đàn ông khác (Không rõ lai lịch cụ thể) điện thoại cho Mai Đình N hỏi mua 02 bánh pháo với giá 1.000.000 đồng/1 bánh thì N nhất trí và hẹn 20 giờ 00 phút sẽ giao hàng tại Cầu T thuộc xã N.
Khoảng 20 giờ 00 phút Mai Đình N điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ - đen biển kiểm soát 37P1-167.23 chở 04 bánh pháo đến khu vực Cầu T thuộc xã N để bán cho hai người đàn ông hỏi mua trước đó, khi Mai Đình N điều khiển xe máy đi đến khu vực xóm T, xã N thì bị lực lượng Công an huyện Yên Thành phát hiện thu giữ 04 bánh pháo, kích thước mỗi bánh pháo (16,5x16,5x10)cm, bên trong mỗi bánh pháp có chứa 49 quả pháo hình trụ tròn, cao 10cm, đường kính 02 cm; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ-đen biển kiểm soát 37P1-167.23.
Cùng ngày cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Đình N tại xóm P, xã L, huyện Y thu giữ tại phòng ngủ của Mai Đình N 01 khối hình hộp chữ nhật kích thước là (16,5x16,5x10)cm, bên trong khối có chứa 44 quả pháo hình trụ tròn, cao 10cm, đường kính 02 cm.
Ngày 24/11/2018, cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành đã mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại (có sự chứng kiến của cán bộ kiểm sát huyện Yên Thành và bị cáo). Theo kết quả thì toàn bộ vật chứng là 05 bánh pháo (04 bánh pháo ở gói niêm phong vật chứng số 1 và 01 bánh pháo ở gói niêm phong vật chứng số 2) hình chữ nhật có kích thước (16,5x16,5x10)cm có khối lượng cả bao bì là 8,873 kg. Sau khi loại bỏ bao bì số còn lại có khối lượng là 8,47 kg. Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành đã lấy hai mẫu bao gồm: 01 khối hình hộp chữ nhật (nghi là pháo) có khối lượng 1,724 kg trong gói niêm phong vật chứng số 1 và 01 khối hình hộp chữ nhật (nghi là pháo) có khối lượng 1,573 kg trong gói niêm phong vật chứng số 2 để giám định còn lại khối lượng 5,173 kg.
Theo kết luận giám định số: 15/KL-PC09 ngày 03/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Hai mẫu vật thu giữ của Mai Đình N gửi tới giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ).
Cáo trạng số: 25/CT-VKSYT ngày 31/01/2019 của VKSND huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố Mai Đình N về Tội buôn bán hàng cấm theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:
¸p dụng điểm c, khoản 1 Điều 190; điểm s, khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Đình N từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
- Xử lý vật chứng vụ án: Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 bánh pháo còn lại có khối lượng 5,173 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng công an huyện Yên Thành; trả lại cho chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ - đen biển kiểm soát 37P1-167.23.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai bị cáo Mai Đình N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên đã tiến hành tố tụng điều tra như lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, ra các quyết định, lấy lời khai, hỏi cung bị can, trưng cầu giám định, kết luận giám định theo đúng các quy định của pháp luật. Xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận Mai Đình N phạm tội “Buôn bán hàng cấm” đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã quy kết.
Khối lượng pháo nổ Mai Đình N có hành vi mua bán là 8,47 kg, chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tuy tố bị cáo theo điểm c, khoản 1, Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Đây là một vụ án nghiêm trọng, hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mẹ bị cáo được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhì, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3 cần xem đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh bị cáo đang khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ nghiêm.
Đối với người đàn ông bán pháo cho Mai Đình N và hai người đàn ông gọi điện hỏi mua pháo, bị cáo Nghị không biết rõ họ tên và địa chỉ của những người này, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch cụ thể của những người này, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị H (vợ của bị cáo N) không biết bị cáo Mai Đình N sử dụng xe máy để thực hiện hành vi phạm tội, do đó không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của Mai Đình N 05 bánh (04 bánh pháo loại 49 quả và 01 bánh pháo loại 44 quả), sau khi lấy mẫu giám định còn lại 03 bánh có khối lượng 5,173 kg hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Yên Thành. Xét vật chứng là hàng cấm cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu đỏ-đen biển kiểm soát 37P1-167.23 xác minh được là của chị Nguyễn Thị H, do đó cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở theo quy định tại Điều 47; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Buộc bị cáo Mai Đình N phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 190; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Đình N 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Mai Đình N cho Uỷ ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh N giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 03 bánh pháo còn lại loại 49 quả/bánh hình hộp chữ nhật, mỗi bánh kích thước (16,5x16,5x10) cm có khối lượng 5,173 kg, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Yên Thành.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Mai Đình N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: -VKSND H. Yên Thành - TAND tỉnh Nghệ An - THA DS H. Yên Thành - Bị cáo; Người bị hại - Người bào chữa - Người có QLNVLQ - lưu HS vụ án | TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Sỹ Cường |