vanban.org

Bản án 20/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn N về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”;

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn M Việt Nam phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N số tiền 1.184.975.242đ (Một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng). Công ty trách nhiệm hữu hạn M Việt Nam phải chịu án phí kinh d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Ban an xet xu kinh doanh thuong mai"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn N về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”;
  • Căn cứ chính? Điều 178 Luật Thương mại; Điều 179 Luật Thương mại; Điều 181 Luật Thương mại
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. TÂN THÀNH
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2018/KDTM-ST
Ngày: 14 – 9 – 2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
gia công hàng hóa”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THÀNH, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Xuân Long

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Công Trường

2. Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2018/TLST-KDTM ngày 18 tháng 6 năm 2018 về: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ, gia công hàng hóa”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2018/QĐXXST-KDTM ngày 09 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 27 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N;

Địa chỉ: Đường X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Mai Thị Hương G, sinh năm 1985, trú tại: Đường X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; là đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 19/6/2018 (có mặt)

2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn M Việt Nam

Địa chỉ: Khu công nghiệp X, thị xã Y, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Người đại diện hợp pháp cho bị đơn: Ông D, sinh năm 1959; trú tại: Đường X, phường Y, thành phố Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 6 năm 2018 và các lần làm việc tại Tòa án, nguyên đơn – Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N trình bày:

Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N (gọi tắt là Công ty N) được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3501802539 thay đổi lần thứ 2 ngày 23/01/2015 của Phòng Đăng ký Kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Vào ngày 02/4/2018, Công ty N và Công ty TNHH M Việt Nam (gọi tắt là Công ty M) ký kết hợp đồng kinh tế số NT/MV-002 với nội dung: Công ty N sẽ đảm nhận gia công kết cấu thép và hoàn thiện theo yêu cẫu kỹ thuật của Công ty M, thanh toán bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản của Công ty N, thời hạn thanh toán là sau 30 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa và hóa đơn giá trị gia tăng.

Sau khi ký kết hợp đồng, căn cứ vào các đơn đặt hàng của Công ty M, Công ty N đã thực hiện nghĩa vụ của mình theo những thỏa thuận đã được ký kết trong hợp đồng kinh tế. Ngày 03/5/2018, giữa 02 Công ty đã ký biên bản nghiệm thu hoàn thành số 2018-5-3/NT.01.

Ngày 17/5/2018, hai Công ty đã ký biên bản quyết toán giá trị số 2018-05-03.1; theo đó, Công ty M xác nhận nghiệm thu với giá trị quyết toán là: 1.184.975.242 đồng và Công ty N đã xuất hóa đơn số 0000257 giao cho Công ty M.

Tuy nhiên, quá thời hạn thanh toán, Công ty M vẫn chưa thanh toán được số tiền trên cho Công ty N.

Chứng cứ mà Công ty N cung cấp là: Hợp đồng kinh tế số NT/MV-002 ngày 02/4/2018, đơn đặt hàng số 2018-04-01 ngày 02/4/2018; biên bản nghiệm thu hoàn thành ngày 03/5/2018, biên bản quyết toán giá trị ngày 17/5/2018 và hóa đơn giá trị gia tăng số 0000257 ngày 17/5/2018.

Nay Công ty N yêu cầu Công ty M thanh toán số tiền nợ là 1.184.975.242 đồng.

Trong suốt giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Bị đơn Công ty TNHH M Việt Nam vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thành cho rằng:

Về trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng dân sự, cụ thể: thu thập tài liệu chứng cứ đúng quy định, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết, các quyền và nghĩa vụ của đương sự đã được thực hiện đầy đủ.

Về nội dung vụ án: Qua trình bày của đương sự, cùng tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty N; buộc Công ty M thanh toán cho Công ty N số tiền 1.184.975.242đ (Một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện của Công ty N thì Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”; bị đơn Công ty M có trụ sở tại huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ); nay có tranh chấp nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thành theo quy định tại Điều 30, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với bị đơn – Công ty M không có yêu cầu phản tố, đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự không hoãn phiên tòa mà tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[2.1] Xét công việc của Công ty N đã thực hiện cho Công ty M theo thỏa thuận tại hợp đồng kinh tế số NT/MV-002 ngày 02/4/2018 thì thấy:

Ngày 02/4/2018, Công ty N và Công ty M ký kết với nội dung: Công ty N sẽ đảm nhận gia công kết cấu thép và hoàn thiện theo yêu cẫu kỹ thuật của Công ty M. Công ty N đã thực hiện xong công việc của mình dựa trên cơ sở đơn đặt hàng ngày 02/4/2018 từ phía Công ty M, điều này đã được phía Công ty M xác nhận tại Biên bản nghiệm thu hoàn thành ngày 03/5/2018 và biên bản quyết toán giá trị ngày 17/5/2018. Đồng thời Công ty N đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty M.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không nhận được tài liệu chứng cứ nào có liên quan đến việc khiếu nại chất lượng công việc của Công ty M đối với Công ty N.

Do đó có đủ cơ sở để khẳng định Công ty N đã thực hiện đúng công việc cho Công ty M, với giá trị công việc đã thực hiện là 1.184.975.242đ (Một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng).

[2.2] Xét việc thanh toán số tiền trên của Công ty M cho Công ty N thì thấy:

Theo thỏa thuận, Công ty M phải có trách nhiệm chuyển khoản cho Công ty N trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hàng hóa và hóa đơn giá trị gia tăng.

Căn cứ vào Bảng sao kê tài khoản số 101160219 của Công ty N mở tại Ngân hàng TMCP Á Châu - chi nhánh Vũng Tàu, thì từ ngày 02/4/2018 đến ngày 11/9/2018 không thể hiện việc Công ty M có chuyển khoản tiền cho Công ty N.

Tòa án cũng đã tiến hành niêm yết đơn khởi kiện, chứng cứ kèm theo đơn của Công ty N, thông báo thụ lý vụ án cho Công ty M biết, tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, Công ty M cũng không cung cấp cho Tòa án được tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả số tiền nợ trên cho Công ty N. Việc Công ty M trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã vắng mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên phải chịu hậu quả về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đã được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào Điều 178, 179, 181, 182 và Điều 183 Luật Thương mại 2005, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của Công ty N; buộc Công ty M phải thanh toán cho Công ty N số tiền: 1.184.975.242đ (Một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng).

Về án phí kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm: Công ty M phải chịu án phí do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, mức án phí được tính trên tổng số tiền là: 47.549.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30, 35, 39, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 178, 179, 181, 182 và Điều 183 Luật thương mại năm 2005;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn N về việc: “Tranh chấp hợp đồng gia công hàng hóa”;

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn M Việt Nam phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N số tiền 1.184.975.242đ (Một tỷ một trăm tám mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi lăm ngàn hai trăm bốn mươi hai đồng).

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn M Việt Nam phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm với số tiền là 47.549.000đ (Bốn mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi chín ngàn đồng).

3. Hoàn trả lại số tiền 23.774.000đ (Hai mươi ba triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003137 ngày 18/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Cơ khí Xây dựng N.

4. Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

5. Các đương sự được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

6. Trường hợp, bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ