- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2017/HSST Ngày 31-5-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU - TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Thiện Khiêm.
2. Ông Trần Hùng Dũng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: Ông Ngô Minh Đức - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 31 tháng 5 năm 2017, tại Hội trường Trung tâm văn hóa thể thao – học tập cộng đồng xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số: 14/2017/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2017/HSST-QĐ ngày 22 tháng 5 năm 2017, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1981, tại huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký NKTT: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị U (đã chết); chồng: Nguyễn Văn L, con: có 02 người con, lớn 17 tuổi và nhỏ 15 tuổi; tiền sự; tiền án: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27 tháng 4 năm 2017. Bị cáo có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Khu Phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 3 năm 2017 Nguyễn Thị Ngọc D điều khiển xe mô tô biển số 70F5-5604 đến cửa hàng điện thoại di động Nguyễn P tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do anh Nguyễn Thanh P làm chủ để bán điện thoại. Khi đến cửa hàng, D gặp chị Phan Thị Ngọc T để giao dịch. Lợi dụng lúc chị T mang điện thoại vào phòng máy kiểm tra, D lén lút lấy một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prine màu trắng-vàng-đồng để trong tủ kiến, cất giấu vào trong túi quần đi về và cất giữ chiếc điện thoại trộm được tại nhà trọ T thuộc ấp T, xã L. huyện B, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 16 tháng 3 năm 2017, do không có tiền tiêu xài nên D đến cửa hàng điện thoại di động Nguyễn P để bán chiếc điện thoại đã lấy trộm thì bị phát hiện. Qua điều tra, xác minh ngày 27 tháng 4 năm 2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh bắt tạm giam D để xử lý về hành vi trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan điều tra D thừa nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Kết luật định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐG ngày 17 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh xác định điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prine, màu trắng-vàng-đồng có giá trị 3.000.000 đồng.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prine, màu trắng-vàng-đồng đã trả lại cho anh Nguyễn Thanh P xong. Một USB 8GB hiệu SanDisk màu đỏ đen và 04 tấm ảnh 9x12 lưu vào hồ sơ vụ án.
Về bồi thường thiệt hại: Anh Nguyễn Thanh P đã nhận lại điện thoại, nên không yêu cầu bồi thường.
Nguyễn Thị Ngọc D không có tài sản, nên Công an huyện B không kê biên tài sản.
Tại bản cáo trạng số: 15/QĐ/KSĐT ngày 12 tháng 5 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố Nguyễn Thị Ngọc D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D về tội trộm cắp tài sản. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1 Điều 46, Điều 42 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Về dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra Công an huyện Bến Cầu đã trả lại tài sản người bị hại. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 08 tháng 3 năm 2017, tại cửa hàng điện thoại di động Nguyễn P tại khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do anh Nguyễn Thanh P làm chủ. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prine màu trắng-vàng-đồng để trong tủ kiến. Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thì trị giá điện thoại di động là: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo D có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người bị hại, lén lút, chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới có tính răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.
Trong quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h, p Khoản 1, Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 138 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: Ghi nhận người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra Công an huyện Bến Cầu đã trả lại tài sản cho người bị hại. Một USB 8GB hiệu SanDisk màu đỏ đen và 04 tấm ảnh 9x12 là tài liệu, chứng cứ liên quan nên lưu vào hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; phạt Nguyễn Thị Ngọc D 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-4-2017.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Vấn đề dân sự: Ghi nhận anh Nguyễn Thanh P không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản.
- Xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra Công an huyện Bến Cầu đã trả lại tài sản cho người bị hại. Một USB 8GB hiệu SanDisk màu đỏ đen và 04 tấm ảnh 9x12 là tài liệu, chứng cứ liên quan nên lưu vào hồ sơ vụ án.
3. Án phí: Áp dụng Điều 98 và Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi đương sự đang cư trú.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh TN (1b); - Phòng PV 27 (1b); - VKSND huyện Bến Cầu (1b); - Công an huyện Bến Cầu (2b); - Chi cục THA huyện Bến Cầu (1b); - Bị cáo (1b); - Người bị hại (1b); - Hồ sơ vụ án (1b); - Lưu./. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Vân Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Vân |