- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Thị Ng xin ly hôn vơi sông Trần Phú Th"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ng về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 16-9-2025. V/v: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Kim Anh.
2. Bà Nguyễn Thị Nam Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quà - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa ngày 04 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ng, sinh năm: 1981; có mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, Th phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Trần Phú Th, sinh năm: 1979; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã T, Th phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – Bà Lê Thị Ng trình bày: Bà và ông Trần Phú Th kết hôn với nhau năm 2003, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã Điện Hồng, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; việc kết hôn là tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là ông Th có quan hệ ngoại tình và thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Nay bà Ng nhận thấy không còn tình cảm với ông Th nên không thể thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa; vì vậy bà Ng yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Trần Phú T, sinh ngày: 15/02/2004 và Trần Bảo Tr, sinh ngày: 02/01/2013. Hiện nay cháu T đã trưởng Th và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết, cháu Tr hiện đang đi học. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Tr và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Trần Phú Th: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng ông Th đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể lấy lời khai, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Dó đó, ông Th không có ý kiến gì về việc yêu cầu ly hôn của bà Ng và vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không có mặt tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa là vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Lê Thị Ng được ly hôn với ông Trần Phú Th và giao cháu Trần Bảo Tr cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung, nợ chung: Bà Ng không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nơi cư trú của ông Trần Phú Th tại Thôn C, xã T, Th phố Đà Nẵng; bà Ng yêu cầu ly hôn và nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn – ông Trần Phú Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự T hành xét xử vắng mặt.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ng và ông Th tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điện Hồng, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là xã T, Th phố Đà Nẵng) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86 ngày 22/12/2003 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Ng nguyên nhân là do ông Th có quan hệ ngoại tình, thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập vợ con và không quan tâm đến gia đình nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể giải quyết được; hiện nay tình cảm không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Th.
Tại biên bản xác minh ngày 18/8/2025, UBND xã T cung cấp: Địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Ng và ông Th. Ông Th hiện đang sinh sống tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Th đều vắng mặt, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Hiện nay, bà Ng và ông Th đã không còn chung sống với nhau. Điều này thể hiện mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa bà Ng và và ông Th không thể hòa giải được, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Ng là có căn cứ nên áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà Ng và ông Th có 02 con chung. Cháu Trần Phú T hiện nay đã đủ tuổi Th niên và có khả năng lao động nên không xét. Cháu Trần Bảo Tr, sinh ngày: 02/01/2013 hiện đang đi học và có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện cháu Tr đang do bà Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; do đó căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xử giao cháu Tr cho bà Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Ng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Lê Thị Ng phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ng về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”.
1. Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị Ng được ly hôn với ông Trần Phú Th.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Bảo Tr, sinh ngày 02/01/2013 cho bà Lê Thị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Phú Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0015279 ngày 24/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 10 – Đà Nẵng).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2025), bị đơn vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tp. Đà Nẵng; - VKSND Khu vực 10 – Đà Nẵng; - THADS tp Đà Nẵng; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Võ Văn Thể |