- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung Đ "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________ Bản án số: 198/2018/HS-ST Ngày: 30 – 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán sơ cấp - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Tuyến
- Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Đ Lưu
2/ Bà Hoàng Thị Hòa
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 30/11/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh,Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 197/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trung Đ - Sinh năm: 1993; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn N, xã KC, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị M; Anh chị em ruột : Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con tứ 2; Vợ Lê Thị Thái H, sinh năm 1994; Con : Có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 000000473 lập ngày 12/9/2018 của Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội bị cáo 01 tiền án, 03 tiền sự:
- Ngày 01/9/2010, TAND TP. Hà Nội xử phạt 4 năm 6 tháng tù giam về tội Cướp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/2/2013 (đã được xóa án tích).
- Ngày 26/12/2013, Cai nghiện (chữa bệnh) bắt buộc 24 tháng.
- Ngày 10/8/2017, Cơ quan CSĐT- Công an quận Bắc Từ Liêm khởi tố bị can về hành vi Cố ý gây thương tích. Ngày 10/10/2018, Cơ quan CSĐT- Công an quận Bắc Từ Liêm đã đình chỉ điều tra bị can và Công an quận Bắc Từ Liêm đã xử phạt hành chính về hành vi Gây tổn hại sức khỏe cho người khác.
- Ngày 04/12/2017, Công an huyện Đông Anh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018, tạm giam từ 14/9/2018 cho tới nay.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15h30’ ngày 11/9/2018, tổ công tác Đồn Công an Nam Hồng - Công an huyện Đông Anh phối hợp cùng Công an xã KC làm nhiệm vụ tại thôn HD, xã KC, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Phát hiện tại quán Internet “BH” do anh Trịnh Quốc C (Sinh năm : 1990; Hộ khẩu thường trú: Thôn HD, xã KC, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội) làm chủ có 02 đối tượng nam giới đang ngồi chơi tại quán gồm: Nguyễn Trung Đ và Ngô Văn T (Sinh năm: 1979; Hộ khẩu thường trú: Thôn ĐI, xã NH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội) có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra.
Khám người theo thủ tục hành chính đối với Nguyễn Trung Đ, phát hiện thu giữ trong túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc có 01 hộp nhựa màu trắng kích thước (06 x 04 x 02)cm bên trong có 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ kích thước (05 x 04)cm chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy tổng hợp. Ngoài ra còn tạm giữ của Đ 01 điện thoại Masstel màu xanh đen, số IMEI1: 352120088264262, IMEI2: 352120088264270, số thuê bao: 0976743785 và 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng)
Khám người theo thủ tục hành chính đối với Ngô Văn T không phát hiện thu giữ gì.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa Nguyễn Trung Đ và Ngô Văn T về trụ sở để tiếp tục đấu tranh làm rõ.
Khám xét nơi ở của Nguyễn Trung Đ tại Thôn N, xã KC, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội không phát hiện thu giữ vật chứng gì liên quan đến hành vi phạm tội của Đ.
Giám định vật chứng thu giữ của Nguyễn Trung Đ, ngày 18/9/2018, Phòng PC54- CATP Hà Nội kết luận giám định số 7179/KLGĐ – PC09 kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng viền đỏ là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 1,013 gram.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Trung Đ, Trịnh Quốc C và Ngô Văn T khai nhận phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được và hiện trường vụ án.
Cơ quan CSĐT - Công An huyện Đông Anh đã điều tra làm rõ:
Khoảng 08h00’ ngày 11/9/2018, Nguyễn Trung Đ đi taxi một mình từ nhà đến quán Internet “BH” tại thôn HD, xã KC, huyện ĐA, thành phố Hà Nội do anh Trịnh Quốc C làm chủ chơi điện tử. Đ chơi đến khoảng 11h15’ cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy “Đá” nên Đ đi taxi hãng 123 (không rõ BKS và số xe) một mình từ quán đến khu vực gầm cầu vượt Kim Chung đường Võ Văn Kiệt (thuộc Thôn Bầu, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội) để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Đ vào uống nước tại quán ven đường. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân lý lịch), qua nói chuyện biết người này bán ma túy nên Đ đặt vấn đề và mua của người đàn ông này 01 túi ma túy “Đá” giá 400.000đ. Mua xong, Đ cho túi nilon chứa ma túy “Đá” vào một chiếc hộp nhựa màu trắng rồi giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi ăn cơm trưa. Ăn xong, Đ tiếp tục đi về quán Internet “BH” chơi điện tử. Đến khoảng 15h30’ cùng ngày, khi Đ đang chơi điện tử tại quán Internet “BH” thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Mục đích Đ mua ma túy về sử dụng, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Việc Đ có và cất giấu ma túy trong người thì không có ai biết, Đ không nói cho ai khác biết gì về việc này.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh đen, số thuê bao: 0976743785 là điện thoại của Đ mua dùng để liên lạc với gia đình, bạn bè và số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền của Đ do lao động mà có không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Ngày 25/10/2018, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lí vật chứng trả cho bà Nguyễn Thị M (Sinh năm: 1965, Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã KC, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội)- mẹ đẻ Nguyễn Trung Đ số đồ vật, tài sản trên.
Đối với Trịnh Quốc C quá trình điều tra xác định Chính là chủ quán Iternet BH, việc Đ đến quán của Chính chơi và cất giấu ma túy trong người thì C không biết, chỉ khi Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện thu giữ ma túy của Đ lúc này C mới biết nên không đề cập xử lí.
Đối với Ngô Văn T quá trình điều tra xác định T chỉ là khách đến chơi điện tử tại quán Iternet “BH”, không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ nên không đề cập xử lí.
Đối với người bán ma túy cho Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác minh làm rõ được.
Tại cáo trạng số 195/CT-VKS ngày 14/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Trung Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017).
Tại phiên tòa
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 8h00’ ngày 11/9/2018 tại quán internet “BH” thôn HD, xã KC, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,971 gam Methamphetamine thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 248; khoản 1 điểm s Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017), xử phạt: Nguyễn Trung Đ với mức án từ 20 đến 24 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Trung Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đông Anh thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trung Đ tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng vật chứng là 0,971 gam Methamphetamine thu giữ trong người Nguyễn Trung Đ.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8h00’ ngày 11/9/2018 tại quán internet “BH” thôn HD, xã KC, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép 0,971 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 .
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự: 01 tiền án, 03 tiền sự. Tiền án bị cáo đã được xóa án tích nên bị cáo được xác định coi như chưa bị kết án theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự 2015.
- Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, có 03 tiền sự
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
+ Tình tiết tăng nặng: Không có.
+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ, cần áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất độc dược được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây nguy hại cho xã hội và bị Nhà nước quy định là tội phạm, bị cáo nhận thức được ma túy là chất độc dược gây nghiện, nó hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội trong đó có HIV/AIDS và các tội phạm khác nhưng bị cáo đã liều lĩnh tàng trữ chất ma túy là loại chất do nhà nước độc quyền quản lý. Đây là vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung Đ đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Đông Anh cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm hạn chế các loại tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Đông Anh nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung. Do vậy, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt tù có thời hạn với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, thì người phạm tội có thể còn bị phạt tiền…Tuy nhiên, xét trong trường hợp này bị cáo chưa có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về biện pháp tư pháp :
- Đối với 0,971 gam ma túy loại Methamphetamine của Nguyễn Trung Đ tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Trung Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2018.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 0,971 gam ma túy tổng hợp có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Trung Đ.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2018 giữa Công an huyện Đông Anh và Chị cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
Bị cáo Nguyễn Trung Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND xã KC, huyện Đông Anh; - VKSND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Chi cục THADS huyện Đông Anh; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Tuyến |