| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG B n án số: 195/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Bà Dƣơng Thị Bạn.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thƣ Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số 212/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 259/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1990, tại: tỉnh Bình Dƣơng; nơi thƣờng trú: Số A, hu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: hông biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Lệ H,; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16/7/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 07 (b y) năm t về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo B n án: 209/2009/HSST (đã đƣợc xóa án tích); tiền sự: Ngày 09 tháng 5 năm 2015 bị Trƣởng Công an phƣờng H ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/QĐ-XPVPHC về hành vi trộm cắp tài s n (chƣa nộp phạt); bị bắt, tạm giam ngày 03 tháng 4 năm 2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh N, sinh năm 1992; nơi thƣờng trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Số B, tổ A, hu phố B, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983; nơi thƣờng trú: Đ, thôn M, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm ch ng: Ông Vƣơng Thất Hoàng A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Kho ng 06 giờ 30 phút, ngày 03/4/2024, Nguyễn Thành L đi bộ đến quán cà phê đầu đƣờng A, hu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để uống cà phê. Đến ho ng 07 giờ 00 c ng ngày, L nhìn thấy bà Nguyễn Thị Mỹ Linh N điều hiển xe đạp điện nhãn hiệu Asama, màu trắng đỏ, đen chạy đến dựng sát căn nhà địa chỉ số I hu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng rồi vào trong quán cà phê để bán vé số. Lúc này, L lén lút đi bộ đến chiếm đoạt xe đạp điện của bà N rồi ngồi lên xe đạp xe đi về hƣớng đƣờng N và đến cửa hàng mua bán xe đạp điện C thuộc hu phố B, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng bán xe cho ông Nguyễn Văn T1 với giá 2.000.000 đồng.
Đến ho ng 07 giờ 15 phút c ng ngày, bà N đi ra thì phát hiện xe đạp điện của mình bị mất trộm nên đến Công an phƣờng A trình báo. Qua truy xét, lực lƣợng Công an phƣờng A nghi vấn Nguyễn Thành L lấy trộm xe đạp điện của bà N nên mời về trụ sở Công an phƣờng làm việc, L đã đầu thú, hai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tang vật thu giữ: 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu Asama, màu trắng đỏ, đen do ông Nguyễn Văn T1 giao nộp; số tiền 1.480.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thành L (số tiền còn lại sau hi bán xe cho ông T1).
Tại Kết luận định giá tài s n số 55/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài s n trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T ết luận: 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu Asama, màu trắng đỏ, đen có trị giá 2.500.000 đồng.
Tại B n cáo trạng số 197/CT-VKS-TA ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện iểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài s n” theo ho n 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện iểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, m c độ, hậu qu hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Kho n 1 Điều 173; điểm s ho n 1, ho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L m c hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng t .
Về trách nhiệm dân sự và về xử l vật ch ng: Không có.
Bị cáo hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện iểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối c i và xin đƣợc gi m nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vẫn giữ nguyên iến trong quá trình điều tra và hông trình bày gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ hi hởi tố vụ án cho đến hi ết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong nội dung đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị cáo hông hiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Quá trình tố tụng bị cáo Nguyễn Thành L hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện iểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo ph hợp với lời hai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở ết luận: Kho ng 07 giờ 00 phút ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại địa chỉ số I, hu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo L thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài s n là 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu Asama, màu trắng đỏ, đen trị giá là 2.500.000 đồng. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Trộm cắp tài s n” theo ho n 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận th c đƣợc hành vi chiếm đoạt tài s n của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tham lam, tƣ lợi bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài s n của bị hại đƣợc pháp luật b o vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Do đó, cần xử phạt bị cáo m c án tƣơng x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội của mình, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, hi quyết định hình phạt cần cân nhắc tính chất và m c độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành hẩn hai báo, ăn năn hối c i, bị cáo ra đầu thú đây là tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s ho n 1, ho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối chiếu với m c hình phạt, các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện iểm sát đề nghị là ph hợp.
Đối với hành vi của ông T1 đã mua lại xe đạp điện Asama 18 màu trắng của bị cáo nhƣng hông biết đây là tài s n do phạm tội mà có và đã nhận lại số tiền 1.480.000 đồng nên Cơ quan c nh sát điều tra Công an thành phố T hông xem xét xử l hình sự là có căn c .
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về xử l vật ch ng: Không có.
Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào:
Kho n 1 Điều 173; điểm s ho n 1, ho n 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n l và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm t , thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 03 tháng 4 năm 2024.
2. Về xử l vậy ch ng và về trách nhiệm dân sự: Không có.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L ph i chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền háng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày ể tuyên án; bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền háng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đƣợc b n án hoặc b n án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - Công an thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |