- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hoàng S - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 194/2017/HSST Ngày: 20/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Kim Em
2. Bà Nguyễn Kim Hồng
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Mai Thị Thái Hòa - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 7, Tp.HCM
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp.HCM tham gia phiên tòa:
Ông Trương Hoài Ninh, Kiểm sát viên.
Ngày 20/12/2017 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Tp.HCM xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 235/2017/TLST-HS ngày 17/11/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Hoàng S ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: / ; Sinh ngày: 17/4/1992; Nơi sinh: tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: 50B/59 khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở: A4-29-01 chung cư Eratown, khu phố K, phường E, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên bảo hiểm; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Họ và tên cha: Vũ Văn H (Chết); Họ và tên mẹ: Đặng Thị G, sinh năm 1961; Chị em: có 02 chị em (lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1992); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2017 – có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1976; địa chỉ: thôn T.D, T.D, Sóc Sơn; chỗ ở: A4-29-1 chung cư Eratown, khu phố K, phường E, Quận I, Tp. HCM.(vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn H.A, xã T.P, huyện Đ.P, tỉnh Quãng Ngãi; chỗ ở: số 08 đường C.L, khu phố M, phường B.T.Đ, quận B.T, Tp. HCM.(vắng mặt)
2/ Cao Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: số 9, đường L.C.K, phường N.T.B, Quận N, Tp.HCM; chỗ ở: 379 đường số O, khu phố K, phường E, Quận I, Tp.HCM.(vắng mặt)
3/ Kiều Ngọc X, sinh năm 1996; địa chỉ: số 34 đường H.T, thành phố B.M.T, tỉnh Đắc Lắc; chỗ ở: A4-29-1 chung cư Eratown, khu phố K, phường E, Quận I, Tp. HCM.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Vũ Hoàng S bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vũ Hoàng S thuê nhà ở địa chỉ A4-29-01 chung cư Eratown, phường E, Quận I. Cùng ngụ với S ở địa chỉ trên có anh Nguyễn Tiến D (sống cùng căn hộ với S nhưng chủ nhà dùng cửa nhôm ngăn giữa các phòng). Do không có tiền tiêu xài nên S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong phòng anh D. Vào khoảng 12 giờ ngày 02/8/2017, S dùng thẻ nhựa (loại thẻ vào thang máy) luồn vào vào khe cửa cạy chốt khóa cửa, đột nhập vào phòng anh D lấy trộm một số tài sản gồm: 06 đĩa than nghe nhạc loại lớn, 01 máy hát đĩa hiệu Telefunken RS30, 01 đầu CD hiệu Sugden, 01 amply Chimera X100 và ổn áp nguồn Chimera X100, 01 đồng hồ hiệu Citizen, 01 đồng hồ hiệu Roventa. S bỏ số tài sản trên vào túi xách rồi mang đi bán cho anh Nguyễn Ngọc L tại địa chỉ: số 8 C.L, phường B.T.Đ, quận B.T được 4.500.000 đồng. Riêng 02 đồng hồ hiệu Citizen và Roventa, S để trong túi xách Puma của S và gửi túi cho anh Cao Văn T, tại tiệm trò chơi bắn cá, địa chỉ: 379 đường O, khu phố K, phường E, Quận I (nơi anh Cao Văn T làm việc).
Hành vi của S bị camera an ninh của chung cư ghi lại. Số tiền 4.500.000 đồng S tiêu xài hết 2.500.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng S đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7. Từ lời khai của S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã thu hồi được 06 đĩa than nghe nhạc loại lớn, 01 máy hát đĩa hiệu Telefunken RS30, 01 đầu CD hiệu Sugden, 01 amply Chimera X100 và ổn áp nguồn Chimera X100, 01 đồng hồ hiệu Citizen, 01 đồng hồ hiệu Roventa
Theo Kết luận định giá tài sản số 297/KL-HĐ ĐGTTHS ngày 13/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận:
“ 06 đĩa nhạc loại lớn theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là: 500.000 đồng/cái x 06 cái = 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
01 máy hát đĩa hiệu Telefunken RS30 theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
01 đầu CD hiệu Sugden SDT-1SE 0664 theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là: 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).
01 Amply Chimera X100 và ổn áp nguồn Chimera X100 theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
01 đồng hồ hiệu Citizen dây da theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).
01 đồng hồ hiệu Roveta dây da theo quyết định trưng cầu định giá, tính đến thời điểm bị xâm phạm, có giá trị là 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).”
Vật chứng của vụ án:
- 06 đĩa nhạc loại lớn, 01 máy hát đĩa hiệu Telefunken, 01 đầu CD hiệu Sugden, 01 Amply Chimera + ổn áp nguồn, 01 đồng hồ hiệu Citizen, 01 đồng hồ hiệu Roventa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho bị hại là anh Nguyễn Tiến D.
- 01 thẻ nhựa màu xanh.
- 2.000.000 đồng.
- 01 túi xách Puma màu đen.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen + sim 0933979792.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là anh Nguyễn Tiến D đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu.
Người liên quan là anh Nguyễn Ngọc L yêu cầu bồi hoàn số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn)
Tại bản cáo trạng số 207/CTr-VKS ngày 15/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo: Vũ Hoàng S (có lý lịch nêu trên) về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên Tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác phản ảnh trong hồ sơ.
Đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Hoàng S đã lén lút chiếm đoạt nhiều tài sản của anh D- tổng giá trị tài sản được định giá là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu). Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Hành vi của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trị an xã hội, chiếm đoạt nhiều tài sản của người ở trọ chung. Phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục và phòng ngừa.
Xét, bị cáo lần đầu phạm tội, tính chất mức độ phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã được giao trả cho người bị hại, thành khẩn khai báo và ngày 28/11/2017 mẹ của bị cáo đã hoàn trả số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn) cho anh Nguyễn Ngọc L. Nên, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - theo qui định tại điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác. Nên, Tòa không xét.
Người liên quan đã được gia đình bị cáo hoàn trả đủ số tiền yêu cầu, Tòa không xét nữa.
Về tài sản đang thu giữ:
Xét, chiếc thẻ nhựa màu xanh và túi xách Puma màu đen là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy; điện thoại di động hiệu Nokia màu đen và sim số 0933979792, không liên quan vụ án, nên trả lại cho bị cáo nên trả lại cho bị cáo; số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), đây là tiền do phạm tội mà có, nhưng gia đình bị cáo đã tự nguyện hoàn trả đủ theo yêu cầu của ông L, nên trả lại số tiền này cho gia đình bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2/ Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xử phạt: Vũ Hoàng S, 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày: 04/8/2017
3/ Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Ghi nhận việc gia đình bị cáo đã hoàn trả số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn) cho anh Nguyễn Ngọc L.
4/ Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc thẻ nhựa màu xanh và 01 túi xách Puma màu đen.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia và sim số 0933979792 .
(Toàn bộ vật chứng trên ghi nhận tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 13 ngày 09/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).
Trả lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho gia đình bị cáo. (theo giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước số 6608444 ngày 30/10/2017)
5/ Áp dụng Điều 98 và Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - Công an Tp.HCM - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu sổ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: (Đã ký) Nguyễn Hồng Thanh |