vanban.org

Bản án 191/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, chia tài sản chung"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 191/2021/HNGĐ-ST
Ngày 01/6/2021
Về việc tranh chấp “ly hôn,
chia tài sản chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI,TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Tâm.

2. Ông Ngô Văn Mừng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguy n Lê H ng Duyên - cán bộ Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Nguy n Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 447/2016/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng

10 năm 2016 về tranh chấp “ly hôn, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số: 203/2021/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp An Thuận, xã

H A, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Đ: Có Luật sự

Nguy n Văn Ph là Trưởng Văn phòng Luật sư Nguy n Văn Ph thuộc Đoàn Luật

sư tỉnh An Giang. (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguy n Văn Nh, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp An Thuận, xã

H A, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguy n Văn Th, sinh năm 1920; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A,

huyện C, tỉnh An Giang; (có đơn xin vắng mặt).

- Bà Nguy n Thị Ph, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A, huyện

C, tỉnh An Giang. (có mặt).

- Nguy n Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: số 514, ấp Bình Hiệp A, xã Bình

Thạnh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đ ng Tháp. (có đơn xin vắng mặt).

- Bà Phạm Thị U, sinh năm 1927 (chết).

* Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà U gồm:

- Bà Nguy n Thị T1, sinh năm 1953; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A, huyện

C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Ông Nguy n Phát Đ, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A,

huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Bà Nguy n Thị B, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A, huyện

C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Bà Nguy n Thị T2, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp An Lạc, xã An Thạnh

Trung, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Ông Nguy n Văn T3, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp An Khương, xã H A,

huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Bà Nguy n Thị Ph, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A Đông,

huyện Lấp Vò, tỉnh Đ ng Tháp. (vắng mặt).

- Bà Nguy n Thị Ph1 (chết).

* Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ph1 gồm:

- Bà Nguy n Thị D1, sinh năm 1976; địa chỉ: ấp An Khương, xã H A,

huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Ông Nguy n Văn P, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp An Khương, xã H A,

huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

- Ông Lê Hoàng G, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp An Thuận, xã H A, huyện

C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa hôm nay bà Đ trình bày:

Bà và ông Nguy n Văn Nh chung sống với nhau vào năm 1982 có tổ chức đám cưới nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Sau đó đến năm 2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H A, huyện C, tỉnh An Giang vào ngày 19/10/2012. Hôn nhân do tự tìm hiểu, vợ ch ng sống hạnh phúc đến năm 1914 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do cuộc sống vợ ch ng bất đ ng quan điểm trong cách sống, vợ ch ng sống không hợp nhau. Vợ ch ng không còn

chung sống với năm từ năm 2015 đến nay. Gia đình hai bên không dàn xếp. Nay

nhận thấy tình cảm không còn nên bà xin ly hôn với ông Nguy n Văn Nh.

- Về quan hệ con chung: Bà và ông Nh trong thời gian hôn nhân còn t n

tại bà và ông Nh có 05 người con chung tên Nguy n Thị T, sinh năm 1984;

Nguy n Thị Ngọc Ph 1, sinh năm 1986; Nguy n Thị Cẩm L1, sinh năm 1988;

Nguy n Ngọc T1, sinh năm 1990; Nguy n Ngọc M1, sinh năm 1993. Hiện các

con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà và ông Nh có diện tích đất 14.319m2 đất

tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490, giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất số CH02688 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/4/2014. Đất tọa

lạc tại ấp An Thuận, xã H A, huyện C, tỉnh An Giang. Trong phần diện tích đất

14.319m2 có phần đất 1.512m2 của bà Nguy n Thị Ph. Sau khi ly hôn bà đ ng ý

trả lại cho bà Ph diện tích đất 1.512m2, còn lại 12.807m2 bà yêu cầu chia theo

quy định của pháp luật.

- Về quan hệ nợ chung: Bà và ông Nh có nợ của bà Nguy n Thị T (con

ruột) số vàng 02 lượng 24k, loại vàng 9999. Thống nhất trả cho bà T số vàng

trên.

- Bị đơn ông Nguy n Văn Nh trình bày: Về quan hệ hôn nhân ông không

đ ng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà Đ vì còn thương vợ con, muốn hàn gắn với

bà Đ.

- Về quan hệ con chung: Ông và bà Đ trong thời gian hôn nhân còn t n tại

ông và bà Đ có 05 người con chung tên Nguy n Thị T, sinh năm 1984; Nguy n

Thị Ngọc Ph 1, sinh năm 1986; Nguy n Thị Cẩm L1, sinh năm 1988; Nguy n

Ngọc T1, sinh năm 1990; Nguy n Ngọc M1, sinh năm 1993. Hiện các con

chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Ông và bà Đ có phần diện tích đất 14.319m2

đất tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490, giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số CH02688 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/4/2014.

Ngu n gốc đất này là của cha mẹ ruột ông cho vợ ch ng ông mượn đứng tên để

vay Ngân hàng chứ không phải cho vợ ch ng ông; nên đây không phải là tài sản

chung của vợ ch ng, không đ ng ý với yêu cầu chia diện tích đất trên của bà Đ.

Trong phần đất này có 1.512m2 là diện tích đất của bà Ph, ông Nh thống nhất trả

lại cho bà Ph.

- Về quan hệ nợ chung: Ông và Đ có nợ của bà Nguy n Thị T (con ruột)

số vàng 02 lượng 24k, loại vàng 9999. Thống nhất trả cho bà T số vàng trên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguy n Văn Th, bà Nguy n

Thị Ph, bà Nguy n Thị T, bà Phạm Thị U (chết) Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ

tố tụng của bà U gồm: bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Phát Đ, bà Nguy n Thị B,

bà Nguy n Thị T2, ông Nguy n Văn T3, bà Nguy n Thị Ph, bà Nguy n Thị Ph1

(chết). Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ph1 gồm: Bà Nguy n Thị

D1, ông Nguy n Văn P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguy n Văn Th, bà Nguy n Thị Ph, bà Nguy n Thị T, bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Phát Đ, bà Nguy n Thị B, bà Nguy n Thị T2, ông Nguy n Văn T3, bà Nguy n Thị Ph, bà Nguy n Thị D1, sinh năm 1976, ông Nguy n Văn P, ông Lê Hoàng G không gửi văn bản cũng như không tham gia các phiên hòa giải nên không ghi nhận được ý kiến của về yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Tại phiên tòa,

- Các đương sự có mặt trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm. Ngoài ra, bà Đ, ông Nh thống nhất tài sản chung của vợ, ch ng là quyền sử dụng đất với diện tích 14.319m2 đất tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02688, ngày 29/4/2014; đ ng ý giao trả cho bà Nguy n Thị Ph 2.000m2 đất tr ng lúa. Bà Đ, ông Nh thống nhất chia diện tích đất còn lại là 12.319m2 và thống nhất trả nợ chung cho bà Nguy n Thị T 20 chỉ vàng 24k (loại vàng 999).

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đ ng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đ ng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Đ và ông Nguy n Văn Nh kết hôn năm 1982, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H A năm 2012, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo bà Đ trình bày: Do ông Nh có quan hệ với người phụ nữ khác và gây thương tích cho bà Đ nên bà Đ yêu cầu ly hôn, phía ông Nh không đ ng ý ly hôn nhưng không có giải pháp để hàn gắn hôn nhân và bà Đ cương quyết ly hôn nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ đối với ông Nh.

- Về quan hệ con chung: Có 05 con chung, Nguy n Thị T, sinh năm 1984, Nguy n Thị Ngọc Ph 1, sinh năm 1986, Nguy n Thị Cẩm L1, sinh năm 1988, Nguy n Ngọc T1, sinh năm 1990, Nguy n Ngọc M1, sinh năm 1993, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Vợ ch ng không thống nhất. Bà Đ yêu cầu chia tài sản chung là diện tích đất là 12.807m2 (theo sơ đ hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C cung cấp ngày 15/5/2018) đã được UBND huyện C cấp quyền sử dụng đất số CH02688 ngày 29/4/2014 cho ông Nh, bà Đ. Bà được hưởng ½ diện tích đất tương đương 6.403,5m2.

Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà Đ thừa nhận trong diện tích đất 14.319m2 của bà và ông Nh đứng tên có 2.000m2 đất là của cha mẹ ch ng cho bà Ph nên bà đ ng ý trừ đi 2.000m2 đất của bà Ph, còn lại 12.319m2 đất, bà yêu cầu chia đôi, tương đương 6159.5m2 đất.

Phía ông Nh không đ ng ý ly hôn và chia tài sản vì cho rằng cuộc sống vợ

ch ng vẫn hạnh phúc. Về ngu n gốc đất do ông Th, bà U cho vợ ch ng đứng tên

trên quyền sử dụng đất để thuận lợi trong việc vay Ngân hàng, không phải tài sản

chung của vợ ch ng nên không đ ng chia.

Tòa án đã tiến hành trích lục h sơ cấp quyền sử dụng đất cho ông Nh, bà Đ

thể hiện hợp đ ng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 27/3/2014 giữa ông Th, bà U

tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 14.319m2 cho ông Nh, bà Đ, đến ngày

29/4/2014 ông Nh, bà Đ được cấp quyền sử dụng đất nên có cơ sở xác định diện

tích đất nêu trên là tài sản chung của vợ ch ng nên có căn cứ để chia theo Điều

59, Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, cần xem xét đến công sức đóng góp của vợ ch ng vào khối tài sản

chung này. Ông Nh và bà Đ đều thống nhất tài sản có được do ông Th, bà U tặng

cho không phải do vợ ch ng tạo lập, bà Đ không có nhu cầu sử dụng đất nên cầm

xem xét chia giá trị đối với diện tích đất 12.319m2 tương đương 12.319m2 x

60.000 đ ng/m2 = 739.140.000 đ ng. Hiện đất do ông Nh quản lý, sử dụng nên

cần buộc ông Nh chia giá trị đất cho bà Đ theo tỷ lệ tương ứng với công sức đóng

góp của bà Đ.

- Về quan hệ nợ chung: Ông Nh, bà Đ và bà T thống nhất tuyên bố hợp đ ng

cầm cố diện tích đất 2.000m2 vô hiệu; ông Nh, bà Đ có trách nhiệm giao trả bà T

02 lượng vàng 24K (loại 9999). Đây là sự tự nguyện thống nhất của các đương sự

nên công nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đ ng xét xử căn cứ các Điều 56,

59, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình, các Điều 122, 123 và Điều 131 Bộ luật

Dân sự, đề nghị:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Đ đối với ông Nguy n Văn Nh.

- Ông Nguy n Văn Nh được tiếp tục, quản lý sử dụng diện tích 12.319m2 và

có nghĩa vụ hoàn giá trị tài sản được chia cho bà Trần Thị Đ theo tỷ lệ tương ứng

với công sức đóng góp.

- Công nhận sự thỏa thuận của ông Nguy n Văn Nh, bà Trần Thị Đ trả bà

Nguy n Thị T 02 lượng vàng 24K (loại 9999).

- Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng

ký quyền sử dụng đất theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại

diện Viện kiểm sát. Hội đ ng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguy n Văn Th, bà Nguy n Thị Ph, bà

Nguy n Thị T, bà Phạm Thị U (chết) Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của

bà U gồm: bà Nguy n Thị T1, ông Nguy n Phát Đ, bà Nguy n Thị B, bà Nguy n Thị T2, ông Nguy n Văn T3, bà Nguy n Thị Ph, bà Nguy n Thị Ph1 (chết). Người kế Thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Ph1 gồm: Bà Nguy n Thị D1, ông Nguy n Văn P, ông Lê Hoàng G đã được tống đạt các Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay các ông bà vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nên Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị Đ khởi kiện xin ly hôn với ông Nguy n Văn Nh. Ông Nh có

nơi cư trú tại ấp An Thuận, xã H A, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Đ và ông Nguy n Văn Nh xác lập

quan hệ vợ ch ng và chung sống với nhau vào năm 1982, có tổ chức l cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của bà Đ, ông Nh được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu sống hạnh phúc. Đến năm 2015, vợ ch ng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân bà Đ cho rằng ông Nh có người phụ nữ khác bên ngoài thường xuyên hành hạ và đánh đập bà và không lo cuộc sống chung trong gia đình. Hiện tại tình cảm hôn nhân giữa bà Đ, ông Nh không thể t n tại và không còn sống chung từ đầu năm 2015 đến nay và 02 bên gia đình không hàn gắn cuộc sống chung không thể sống hạnh phúc. Hội đ ng xét xử xét thấy, mối quan hệ vợ ch ng giữa bà Đ, ông Nh không thể hàn gắn được, mâu thuẩn phát sinh ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Đ xin ly hôn với ông Nguy n Văn Nh là phù hợp được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về quan hệ con chung: Bà Đ và ông Nh trong thời gian hôn nhân còn

t n tại bà và ông Nh có 05 người con chung tên Nguy n Thị T, sinh năm 1984; Nguy n Thị Ngọc Ph 1, sinh năm 1986; Nguy n Thị Cẩm L1, sinh năm 1988; Nguy n Ngọc T1, sinh năm 1990; Nguy n Ngọc M1, sinh năm 1993. Hiện các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đ ng xét xử không xét đến.

- Về quan hệ tài sản chung: Bà Đ và ông Nh xác định trong thời kỳ hôn

nhân còn t n tại ông, bà có tạo dựng khối tài sản chung g m: Diện diện tích đất 14.319m2 đất tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02688, ngày 29/4/2014. Bà Đ yêu cầu chia đôi khối tài sản nêu trên theo quy định của pháp luật. Ông Nh không đ ng ý chia và cho rằng tài sản này là của cha, mẹ ông khi còn sống cho ông để vay vốn ngân hàng và làm đất hương quả nhằm để thờ cúng ông bà do đó làm phát sinh tranh chấp.

Các đương sự thống nhất theo số liệu bản vẽ ngày 15/5/2018 của Văn

phòng Đăng ký đất đai - chi nhánh C. Đất thực tế có diện tích 14.925m2 do ông Nh, bà Đ đứng tên quyền sử dụng đất. Thống nhất không yêu cầu Tòa án đo đạc,

xem xét thẩm định tại chổ lại và thống nhất kết quả định giá ngày 13/9/2017 giá

trị đất như sau: Đất 14.925m2, loại đất tr ng lúa nước, giá trị 60.000 đ ng/m2.

Tuy nhiên đất thực tế đo được là 12.925m2 có phần chênh lệch dư 606m2 so với

đất được cấp là 14.319m2; tại phiên Tòa hôm nay bà Đ tự nguyện rút lại 01 phần

yêu cầu không chia diện tích đất chênh lệch 606m2.

Ông Nh, bà Đ xác định diện tích đất 14.319m2 đất nông nghiệp là tài

chung của vợ, ch ng; thống nhất giao trả 2.000m2 đất nông nghiệp cho bà Ph.

Vậy, diện tích đất còn lại của ông Nh, bà Đ là 12.319m2.

Các bên đương sự thống nhất giá trị đất là 60.000 đ ng/m2.

Cụ thể: Tổng tài sản là 12.319m2 x 60.000 đ ng/m2 = 739.140.000 đ ng.

Hội đ ng xét xử nhận định đối với diện tích đất 12.319m2 đất

tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490 nói trên về ngu n gốc là

của cha, mẹ ông Nh tặng cho lại ông Nh, bà Đ. Đến ngày 29/4/2014 ông

Nh, bà Đ được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp theo giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất số CH02688; nhưng cần xem xét đến công sức đóng góp của ông

Nh, bà Đ vào khối tài sản chung của vợ ch ng; ông Nh, bà Đ thống nhất tài sản

có được là do ông Th, bà U tặng cho, không phải do vợ ch ng tạo lập và bà Đ

không trực tiếp canh tác và không có nhu cầu sử dụng đất nên cần xem xét chia

giá trị đối với diện tích đất nói trên cho bà Đ là có căn cứ. Vì các chứng cứ nêu

trên Hội đ ng xét xử xét thấy nghĩ nên chấp nhận 01 phần yêu cầu của bà Đ. Ông

Nh được tiếp tục quản lý sử dụng trên diện tích đất (quyền sử dụng đất) 12.319m2

đất nông nghiệp. Bà Đ được hưởng 40% giá trị tài sản của 12.319m2 đất nông

nghiệp.

- Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ về việc rút lại yêu

cầu đối với diện tích đất dư đo thực tế so với diện tích được cấp là 606m2.

- Ông Nguy n Văn Nh được tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất diện tích

12.319m2 đất tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490; tọa lạc ấp An

Thuận, xã H A, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất số CH02688 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/4/2014 cho ông

Nguy n Văn Nh và bà Trần Thị Đ.

- Buộc ông Nguy n Văn Nh có nghĩa vụ hoàn 40% giá trị quyền sử dụng

đất diện tích 12.319m2 cho bà Trần Thị Đ với số tiền 295.656.000 (hai trăm chín

mươi lăm triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn) đồng.

Bản vẽ ngày 15/5/2018 của Văn phòng Đăng ký đất đai - chi nhánh huyện

C, tỉnh An Giang là một phần không thể tách rời của bản án. Các bên đương sự có

trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất

theo quy định của pháp luật.

- Về quan hệ nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguy n Thị T.

Công nhận sự thỏa thuận ông Nh, bà Đ thừa nhận có nợ bà Nguy n Thị T 20 chỉ

vàng 24K (loại 9999). Ông, bà thỏa thuận liên đới trả cho bà T số vàng trên. Hội đ ng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự không trái với đạo đức xã hội, vì vậy có cơ sở để chấp nhận.

- Buộc ông Nguy n Văn Nh, có nghĩa vụ cho bà Nguy n Thị T 10 chỉ

vàng 24k (loại vàng 9999).

- Buộc bà Trần Thị Đ, có nghĩa vụ cho bà Nguy n Thị T 10 chỉ vàng 24k

(loại vàng 9999).

. Về chi đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản:

3.1. Bà Đ tự nguyện chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ

1.800.000 đ ng. Bà Đ đã nộp xong.

3.2. Bà Đ tự nguyện chịu 3.365.359 đ ng, chi phí nhận bản vẽ ngày

15/5/2018 đối với diện tích đất. Bà Đ đã nộp xong.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí theo quy

định của pháp luật và tại thời điểm xét xử vàng 24k (loại vàng 9999) có giá 5.500.000đ ng/chỉ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 122, 123 và Điều 131 Bộ luật dân sự.

- Các Điều 27, 33, 37, 55, 56, 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Các Điều 28, 35, 73, 146, 147, 212, 213, 217, 227, 228, 235 và Điều 273

Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Đ được ly hôn với ông Nguy n

Văn Nh.

Giấy chứng nhận kết hôn số 192/2012, quyển số 02/2012, ngày

19/10/2012 do Ủy ban nhân dân xã H A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Thị Đ và ông Nguy n Văn Nh. Không còn giá trị pháp lý.

3. Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Đ và ông Nguy n Văn Nh: có 05

con chung tên Nguy n Thị T, sinh năm 1984; Nguy n Thị Ngọc Ph 1, sinh năm 1986; Nguy n Thị Cẩm L1, sinh năm 1988; Nguy n Ngọc T1, sinh năm 1990 và Nguy n Ngọc M1, sinh năm 1993. Hiện các con chung đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đ ng xét xử không xét đến.

4. Về quan hệ tài sản chung:

4.1. Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Đ về việc rút lại

yêu cầu đối với diện tích đất dư đo thực tế so với diện tích được cấp là 606m2.

4.2. Ông Nguy n Văn Nh được tiếp tục sử dụng quyền sử dụng đất diện

tích 12.319m2 đất tr ng lúa, theo tờ bản đ số 03, thửa số 1377, 1490, tọa lạc ấp

An Thuận, xã H A, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất số CH02688 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/4/2014 cho

ông Nguy n Văn Nh và bà Trần Thị Đ.

4.3. Buộc ông Nguy n Văn Nh có nghĩa vụ hoàn 40% giá trị quyền sử

dụng đất diện tích 12.319m2 cho bà Trần Thị Đ với số tiền 295.656.000 (hai

trăm chín mươi lăm triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn) đồng.

4.4. Bản vẽ ngày 15/5/2018 của Văn phòng Đăng ký đất đai - chi nhánh

huyện C, tỉnh An Giang là một phần không thể tách rời của bản án. Các bên

đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền

sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

5. Về quan hệ nợ chung:

5.1. Buộc ông Nguy n Văn Nh, có nghĩa vụ cho bà Nguy n Thị T 10 chỉ

vàng 24k (loại vàng 9999).

5.2. Buộc bà Trần Thị Đ, có nghĩa vụ cho bà Nguy n Thị T 10 chỉ vàng

24k (loại vàng 9999).

6. Về chi đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ và định giá tài sản:

6.1. Bà Đ tự nguyện chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ

1.800.000 đ ng. Bà Đ đã nộp xong.

6.2. Bà Đ tự nguyện chịu 3.365.359 đ ng, chi phí nhận bản vẽ ngày

15/5/2018 đối với diện tích đất tranh chấp. Bà Đ đã nộp xong.

7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Đ phải chịu án phí 14.782.800

(mười bốn triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn tám trăm) đồng, nhưng được khấu

trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.402.000 đ ng theo biên lai thu số 0004576

ngày 12/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang. Bà Đ

còn phải nộp thêm 12.380.800 (mười hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn tám

trăm) đồng.

- Ông Nguy n Văn Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 21.739.360 (hai

mươi một triệu bảy trăm ba mươi chín nghìn ba trăm sáu mươi) đồng.

- Bà Nguy n Thị T được nhận lại 875.000 (tám trăm bảy mươi năm

nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004815, ngày

24/11/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

- Ông Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối phần nợ chung của vợ

ch ng phải trả cho bà T 10 chỉ vàng là 2.750.000 đ ng.

- Bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối phần nợ chung của vợ ch ng

phải trả cho bà T 10 chỉ vàng là 2.750.000 đ ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho

đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ