- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Trọng Khánh Duy bị truy tố và xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------- Bản án số: 190/2023/HSST Ngày 05 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Liễu
Ông Đinh Ngọc Phú
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023; đối với bị cáo:
Nghiêm Trọng Khánh D, sinh năm 1995; ĐKHKTT và trú tại: số 2/54 An Thái, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Trọng T, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm: 1961. Vợ là Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1999 và có 01 con, sinh tháng 3 năm 2023
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt hành chính số 94/QĐ-XPĐG ngày 18/3/2013 của Công an thành phố Hải Dương xử phạt Nghiêm Trọng Khánh D về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức: Phạt tiền 750.000đ (nộp tiền ngày 29/3/2013)
- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 345/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương đối với Nghiêm Trọng Khánh D, hình thức: Cai nghiện, điều trị nghiện tự nguyện tại gia đình. Thời hạn áp dụng: 04 tháng 15 ngày, kể từ ngày 21/12/2021 (chấp hành xong ngày 05/5/2022).
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ ngày từ 22/8/2023, chuyển tạm giam từ ngày 25/8/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Hải Dương. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Trần Anh Tuấn và anh Trần Văn Lâm; Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40’ ngày 22/8/2023, Nghiêm Trọng Khánh D đi bộ ra khu vực đường Nguyễn Thượng Mẫn, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương mục đích tìm mua ma túy tổng hợp để sử dụng. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy tổng hợp với số tiền 300.000đồng. D cầm ma túy trên tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 10’ cùng ngày, khi D đi bộ đến khu vực đầu ngõ 84 An Thái, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dương trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái D một túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1x1,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng. D khai là ma túy tổng hợp, cất giấu mục đích để sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Trần Anh Tuấn và anh Trần Văn Lâm.
Tại Bản kết luận giám định số 397/TB-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận:
Chất tinh thể dạng cục màu trắng trong 01 túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì thu giữ của Nghiêm Trọng Khánh D gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,205 gam;
Methamphetamine nằm trong Danh mục 2C, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Sau khi giám định hoàn lại mẫu vật 0,153 gam Methamphetamine.
Tại Biên bản xét nghiệm phát hiện chất ma túy trong nước tiểu đối với Nghiêm Trọng Khánh D bằng thanh thử DURG TEST, kết quả dương tính (Trong nước tiểu có chứa chất ma túy) Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 185/CT-VKSTPHD ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Nghiêm Trọng Khánh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hải Dương. Xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/8/2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 0,153 gam Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội. Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 10’ ngày 22/8/2023, tại khu vực đầu ngõ 84 An Thái, phường Bình Hàn, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Nghiêm Trọng Khánh D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,205 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Nghiêm Trọng Khánh D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện có tác hại không chỉ cho sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội, việc bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D đã có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 0,205 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với khối lượng và hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố đối với Nghiêm Trọng Khánh D về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Về nhân thân: Nghiêm Trọng Khánh D là người có nhân thân xấu. Về tình tiết tăng nặng: không có. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cần thiết xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D tàng trữ ma túy số lượng ít, với mục đích sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,205 gam Methamphetamine thu giữ của Nghiêm Trọng Khánh D. Sau khi giám định, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương hoàn lại mẫu vật 0,153 gam Methamphetamine, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ và 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc Hội.
Về các vấn đề khác: Đối với người bán trái phép chất ma túy cho Nghiêm Trọng Khánh D không rõ họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về trách nhiệm hình sự:
- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/8/2023.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,153 gam Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong số 397/KL-KTHS, Công an tỉnh Hải Dương.
(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nghiêm Trọng Khánh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND TP Hải Dương; - CQTHAHS - Công an tỉnh Hải Dương; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - Công an TP Hải Dương; - CQCSĐT-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương; - CQTHAHS-Công an TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam-CA tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu |