vanban.org

Bản án 190/2022/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 02/06/2022 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N, giữ nguyên Quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Về án phí: Anh Nguyễn Hữu N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000033 ngày 21/10/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận đã nộp đủ. Các quyết định khác của b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Anh Nguyễn Hữu N khởi kiện Sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh Phú Thọ"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N, giữ nguyên Quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg Về một số chế độ đối với người…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 34 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2022/HCPT
Ngày: 02/6/2022
V/v: Khởi kiện hủy quyết
định hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hoa;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Xuân Phách;

Ông Chu Thành Quang.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hải, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 02 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hành chính thụ lý số 547/2021/TLPT-HC ngày 27 tháng 12 năm 2021 do có kháng cáo của người khởi kiện, đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4604/2022/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu 3, xã V X, huyện T N, tỉnh Phú Thọ. Xin xét xử vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện:

- Ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 30 ngõ 16, phố T T, phường P T, quận T H, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền có chứng thực ngày 21/9/2021). Có mặt

2. Người bị kiện: Sở Lao động Thương binh và Xã Hội tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Công T– Chức vụ: Phó Giám đốc (Giấy ủy quyền ngày 26/5/2022 của Giám đốc). Xin xét xử vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ;

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Quang T1; chức vụ: Chánh Thanh tra tỉnh Phú Thọ (Theo ủy quyền). Xin xét xử vắng mặt

- Thanh tra Bộ Lao động Thương binh và Xã Hội; địa chỉ: Số 2 Đ L, quận H K, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Đàm Thị Minh T2 – Chức vụ: Phó Chánh Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh - Xã hội (Giấy ủy quyền số 01 ngày 30/5/2022). Xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình tố tụng ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Bá H là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện và Luật sư trình bày:

Ngày 30/6/2020 Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Theo đó Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ đình chỉ trợ cấp hàng tháng và các quyền lợi đối với anh Nguyễn Hữu N và các quyền lợi với ông, đồng thời thực hiện thu hồi trợ cấp đối với anh Nguyễn Hữu N từ ngày 01/01/2000 đến 31/12/2019 với tổng số tiền là 103.109.000đ (Một trăm linh ba triệu, một trăm linh chín nghìn đồng).

Ông cho rằng quyết định trên là trái pháp luật và xâm phạm đến quyền lợi ích của anh Nguyễn Hữu N bởi các lẽ sau:

Thứ nhất: Việc xem xét cho hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được nhiều cơ quan và cấp có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục và thành phần hồ sơ do pháp luật quy định, thậm chí còn phải tiến hành giám định y khoa để xác định tình trạng bệnh tật, dị dạng, dị tật của người được hưởng để xác định mức trợ cấp hàng tháng. Tuy nhiên Điều 1 Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) lại không chỉ ra bất kỳ sai phạm nào trong quá trình xem xét đưa ra quyết định cho hưởng chế độ mà chỉ căn cứ vào lý do: “Ngày 01/10/2019, xác minh trực tiếp đối với ông Nguyễn Văn M, xác định: Anh N còn khả năng lao động, hiện đang làm công việc giao hàng tại siêu thị Hà Nội” để quyết định đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng là mang ý chí chủ quan, không có căn cứ pháp luật.

Thứ hai: Chế độ trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là thể hiện sự quan tâm, sâu sát của Đảng và Nhà nước đối với không chỉ người bị nhiễm chất độc hóa học mà còn đối với con cái (thế hệ tiếp nối) của họ nhằm giảm bớt phần nào những khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy số tiền hàng tháng anh N nhận được cũng chỉ ở mức “hỗ trợ”, nó quá nhỏ so với yêu cầu cuộc sống và những khó khăn cũng như gánh nặng tâm lý, bệnh tật để có thể hòa nhập vào cuộc sống xã hội, xây dựng gia đình. Việc anh N phải nỗ lực đi làm việc và trang trải cuộc sống là lẽ đương nhiên. Pháp luật cũng không có bất kỳ quy định nào về việc người được hưởng trợ cấp hàng tháng rồi thì không được phép đi làm để đóng góp cho gia đình và xã hội. Trong khi đó, chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ luôn khuyến khích các thương binh, bệnh binh làm theo lời Bác Hồ dạy “Thương binh tàn nhưng không phế” để vừa nêu cao tinh thần bộ đội cụ Hồ, vừa để giảm bớt gánh nặng cho cho gia đình và xã hội. Vì vậy, anh N là con của người có công từng tham gia chiến đấu và bị nhiễm chất độc hóa học lại bị đình chỉ và thu hồi trợ cấp vì việc đi làm trang trải cho cuộc sống gia đình và giảm gánh nặng cho xã hội. Do đó Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học không chỉ là sự vô tình đối với người có công, con cái của họ mà còn trái quy định của pháp luật và chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba: Ngoài việc đình chỉ trợ cấp hàng tháng đối với anh N thì Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 còn thu hồi toàn bộ số tiền đã trợ cấp từ 01/01/2000 đến 31/12/2019. Như vậy Quyết định chỉ dựa vào việc anh N đi làm ở thời điểm hiện tại để xác định anh N có khả năng lao động trong toàn bộ thời gian trước đó, trong đó có thời gian anh N còn ngồi trên ghế nhà trường chưa làm được gì để tạo ra thu nhập. Như vậy là hết sức vô lý và không có căn cứ.

Do vậy, anh Nguyễn Hữu N: Đề nghị Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ và đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:

Quá trình giải quyết chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N thể hiện: Tại Hồ sơ hưởng chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa của anh Nguyễn Hữu N (thời điểm xác lập hồ sơ: tháng 11/2000) gồm có: Phiếu điều tra người bị hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; Bản khai hưởng trợ cấp người bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; Giấy khám, đánh giá và xác nhận tình trạng mắc bệnh dị dạng, dị tật, khả năng lao động và tự lực trong sinh hoạt do hậu quả nhiễm chất độc hóa học của Trung tâm y tế T N; Phiếu chứng nhận huy hiệu toàn thắng 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh của ông Nguyễn Văn M (bố anh Nguyễn Hữu N); Quyết định số 171/QĐ-UB ngày 18/01/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ về việc trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Căn cứ pháp lý ra quyết định hưởng chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N gồm có:Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 5/7/2000 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Quá trình thực hiện việc đình chỉ và thu hồi chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N:

Thực hiện Quyết định số 414/QĐ-TTr ngày 14/8/2019 của Chánh thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc thanh tra thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng tại tỉnh Phú Thọ, từ ngày 21/8/2019 đến ngày 18/10/2019, Đoàn thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiến hành kiểm tra 6.624 hồ sơ người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ đang hưởng chế độ chất độc hóa học; ngày 21/11/2019 Chánh Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Kết luận số 566/KL-TTr về việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với với cách mạng tại tỉnh Phú Thọ trong đó có nội dung kiến nghị Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ ban hành quyết định đình chỉ trợ cấp và thu hồi chế độ con đẻ người HĐKC bị nhiễm chất độc hoá học do kết quả xác minh trực tiếp đối tượng không bị dị dạng, dị tật hoặc dị dạng, dị tật mức độ nhẹ, còn khả năng lao động, đã lập gia đình và sinh con, hiện đang là lao động tự do tại địa phương hoặc làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp hoặc đi xuất khẩu lao động.

Ngày 10/01/2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ ban hành Văn bản số 114/UBND-KGVX về việc thực hiện Kết luận của Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong đó có yêu cầu Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành các quyết định đình chỉ trợ cấp, thu hồi trợ cấp đối với các trường trường hợp có tên trong Kết luận thanh tra số 566/KL-TTr.

Ngày 10/02/2020, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Kế hoạch số 18/KH-SLĐTBXH về thực hiện Kết luận thanh tra số 566/KL-TTr trong đó yêu cầu Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện thành thị tổ chức gặp gỡ, đối thoại với các đối tượng bị đình chỉ trợ cấp.

Ngày 22/5/2020, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có Văn bản số 959/SLĐTBXH-NCC mời Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện thành thị phối hợp với các phòng chuyên môn của Sở thẩm định lại hồ sơ, xem xét kiến nghị và các tài liệu bổ sung của các trường hợp con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học thuộc diện đình chỉ và thu hồi trợ cấp theo Kết luận số 566/KL-TTr.

Trên cơ sở Kết luận thanh tra số 566/KL-TTr, kết quả thẩm định lại hồ sơ sau khi làm việc với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện T N đối với trường hợp anh Nguyễn Hữu N, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N, quyết định này được thực hiện đúng quy trình và quy định hiện hành.

Đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu N đề nghị Tòa án tuyên hủy Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh N theo quy định của pháp luật. Với yêu cầu khởi kiện nêu trên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Quang T là người đại diện theo uỷ quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày: Việc xác lập hồ sơ và ban hành quyết định phê duyệt trợ cấp: Hồ sơ hưởng chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học của ông Nguyễn Hữu N được xác lập tháng 11/2000 theo quy định tại khoản 2 Điều 1, Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; điểm 2 Mục II Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, như sau:

“a, Bị dị dạng, dị tật nặng, không có khả năng lao động, không tự lực được trong sinh hoạt.

b, Bị dị dạng, dị tật, không có khả năng lao động nhưng còn tự lực được trong sinh hoạt”.

Việc lập, xét duyệt hồ sơ được thực hiện theo quy định tại Phần IV Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000: Căn cứ vào hồ sơ do Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội chuyển đến, danh sách người bị nhiễm chất độc hóa học đã điều tra theo Quyết định số 74/1998/QĐ-TTg; Sở Lao động - Thương binh & Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì phối hợp với sở Tài chính - Vật giá tổ chức xét duyệt, lập danh sách người hưởng trợ cấp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định trợ cấp và thông báo cho UBND huyện, quận, thị xã tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở xét duyệt, lập danh sách theo quy định trên, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 171/QĐ-UB ngày 18/01/2001 về việc trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, trong đó có trường hợp Nguyễn Hữu N là con đẻ ông Nguyễn Văn M.

Về kiểm tra, thu hồi trợ cấp của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội: Nay, cơ quan chức năng kiểm tra hồ sơ của anh Nguyễn Hữu N, đồng thời xác minh thực tế, kết luận: anh N, còn khả năng lao động, hiện nay đang làm công việc giao hàng tại siêu thị Hà Nội.

Chánh Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Kết luận số 566/KL-TTr ngày 21/11/2019, trong đó có nội dung kiến nghị Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ ban hành quyết định đình chỉ trợ cấp và thu hồi chế độ con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH do kết quả xác minh trực tiếp đối tượng không bị dị dạng, dị tật hoặc dị dạng, dị tật mức độ nhẹ, còn khả năng lao động.

- Về quan điểm của UBND tỉnh Phú Thọ: Theo hồ sơ xét duyệt xác lập tháng 11/2000 gồm: Giấy khám đánh giá và xác nhận của Trung tâm Y tế huyện T N ngày 15/11/2000 xác định tình trạng di tật: Không; khả năng lao động: Còn; khả năng tự lực trong sinh hoạt: Được; đồng thời xác minh thực tế, kết luận: anh N, còn khả năng lao động, hiện nay đang làm công việc giao hàng tại siêu thị Hà Nội. Như vậy, đối chiếu với quy định tại Điểm 2 Mục II Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC thì tại thời điểm xác lập hồ sơ anh Nguyễn Hữu N không có dị tật, còn khả năng lao động nên không đủ điều kiện hưởng con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Trách nhiệm thuộc các cơ quan liên quan đã được nêu rõ tại Kết luận thanh tra số 566/KL-TTr ngày 21/11/2019 của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 43 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 quy định thủ tục xử lý đối với những trường hợp khai man, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi: “Trường hợp kết luận đối tượng khai man, giả mạo hồ sơ thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định đình chỉ chế độ, thu hồi quyền lợi đã hưởng sai, đề nghị cơ quan, đơn vị xác lập hồ sơ người có công thu hồi giấy tờ đã cấp và chuyển các cơ quan có liên quan để xử lý theo pháp luật hiện hành”; cơ quan chức năng chưa chứng minh, kết luận đối tượng có khai man, giả mạo hồ sơ hay không? nên việc ban hành quyết định đình chỉ chế độ, thu hồi quyền lợi đã hưởng sai cần được xem xét đảm bảo đúng quy định.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thanh tra Bộ Lao động - Tthương binh và Xã hội: ông Nguyễn Xuân Toàn là đại diện theo uỷ quyền trình bày: Về việc đình chỉ chế độ đối với anh Nguyễn Hữu N: Kiểm tra tại Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ và xác minh tại cơ sở, Đoàn thanh tra Bộ Lao động thương binh và Xã hội phát hiện hồ sơ hưởng chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học của anh Nguyễn Hữu N được xác lập theo Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam và Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT/BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000 của Bộ Lao động thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam nhưng không đảm bảo quy định, cụ thể:

Tại giấy khám, đánh giá và xác nhận tình trạng mắc bệnh, dị dạng, dị tật và khả năng lao động do hậu quả nhiễm chất độc hóa học đề ngày 16/11/2000, Trung tâm y tế huyện T N kết luận anh Nguyễn Hữu N không bị dị dạng, dị tật; còn khả năng lao động. Ngày 01/10/2019, Đoàn thanh tra làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Văn M (là bố đẻ anh Nguyễn Hữu N) với sự tham gia của cán bộ Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ và bác sỹ Trung tâm y tế huyện T N, ông Minh cho biết: anh Nguyễn Hữu N có khả năng lao động, đang làm công việc giao hàng cho siêu thị tại thành phố Hà Nội, đã lấy vợ.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 1 Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 và mục IV Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT/BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000, anh Nguyễn Hữu N không đủ điều kiện hưởng chế độ con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Vì vậy, tại Kết luận thanh tra số 566/KL-TTr ngày 21/11/2019, Chánh thanh tra Bộ LĐTBXH đã yêu cầu Giám đốc Sở LĐTBXH tỉnh Phú Thọ đình chỉ trợ cấp đối với anh Nguyễn Hữu N, thu hồi số tiền đã hưởng sai nộp ngân sách Nhà nước là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ không tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại, đề nghị đưa vụ án trên ra giải quyết, xét xử theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng các đương sự không thống nhất được toàn bộ nội dung vụ án.

Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 193, Điều 158 Luật tố tụng hành chính; Xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu N, đề nghị huỷ Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/10/2021, người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến Người đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện.

Đại diện người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội:

Về việc chấp hành pháp luật:

Tại cấp phúc thẩm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật tố tụng đến trước khi nghị án.

Về nội dung kháng cáo: Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đã được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung đúng quy định. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện là có cơ sở. Tuy nhiên, Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết đối với 02 nội dung, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ bác yêu cầu hủy Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học mà không bác yêu cầu buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật là thiếu sót, cần sửa cách tuyên của bản án sơ thẩm, bổ sung nội dung bác yêu cầu buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của người khởi kiện trong hạn luật định được xem xét theo trình tự phúc thẩm

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

Thời hiệu khởi kiện: Quyết định hành chính bị kiện là Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N. Ngày 24/5/2021 anh Nguyễn Hữu N khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Theo quy định điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu N còn thời hiệu khởi kiện, như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng.

Xét nội dung kháng cáo của Người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N, Hội đồng xét xử thấy:

Kháng cáo của Người khởi kiện cho rằng Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ không đưa ra được lý do đình chỉ và thu hồi trợ cấp và không đưa ra được căn cứ pháp lý nào là không có cơ sở.

Người khởi kiện cho rằng trước khi ban hành Quyết định 2357/QĐ-SLĐTBXH không xác minh trực tiếp với Người khởi kiện để xác định khả năng lao động của Người khởi kiện là việc làm quan liêu thiếu trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền. Xét thấy, Quyết định 2357 về việc trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N, cơ quan chức năng đã xác minh thực tế, bố của anh Nguyễn Hữu N cung cấp thông tin: anh N, còn khả năng lao động, hiện nay đang làm công việc giao hàng tại siêu thị Hà Nội là có cơ sở.

Người khởi kiện cho rằng khi vụ việc được đưa ra Tòa án giải quyết thì Sở lao động – Thương binh-Xã hội tỉnh Phú Thọ mới đưa ra lý do là việc sai sót trong quá trình thẩm định hồ sơ từ năm 2000, khiến gia đình bức xúc. Tuy nhiên, việc cơ quan có thẩm quyền xem xét lại điều kiện được hưởng chế độ từ khi lập hồ sơ là cần thiết, đúng quy định và có căn cứ xác định tại thời điểm xét duyệt hồ sơ, anh Nguyễn Hữu N đã không đủ điều kiện được hưởng chế độ theo quy định, cơ quan có thẩm quyền vẫn xét duyệt cho anh N là trách nhiệm thuộc về cơ quan xét duyệt hồ sơ, chứ không thuộc trường hợp đối tượng khai man, giả mạo hồ sơ theo Điều 43 Thông tu 05/2013/TT-BLĐTBXH, ngày 15/5/2013, cụ thể:

Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam và điểm 2 Mục II Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000 của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, như sau:

“a, Bị dị dạng, dị tật nặng, không có khả năng lao động, không tự lực được trong sinh hoạt.

b, Bị dị dạng, dị tật, không có khả năng lao động nhưng còn tự lực được trong sinh hoạt”.

Tại hồ sơ xét duyệt cho anh Nguyễn Hữu N được hưởng chế độ thể hiện: Giấy khám đánh giá và xác nhận của Trung tâm Y tế huyện T N ngày 10/11/2000 đã kết luận “...tình trạng dị dạng, dị tật: Không; Khả năng lao động: Còn; Khả năng tự lực trong sinh hoạt: Được...”. Ngoài ra bản tự khai hưởng trợ cấp người bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam do ông Nguyễn Văn M (là bố đẻ) của anh Nguyễn Hữu N khai còn tự lực được trong sinh hoạt... Mặt khác, tại thời điểm ban hành Quyết định số 171/QĐ-UB ngày 18/01/2001 về việc trợ cấp đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Anh Nguyễn Hữu N được 16 tuổi 4 tháng, đồng thời tại phiên toà ông Hưng là người đại diện theo uỷ quyền trình bày anh Nguyễn Hữu N học đến lớp 9/12 thì nghỉ học. Ngoài ra, ngày 01/10/2019 Đoàn thanh tra làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Văn M (là bố đẻ anh Nguyễn Hữu N) với sự tham gia của cán bộ Sở Lao động thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ và bác sỹ Trung tâm y tế huyện T N, ông Nguyễn Văn M cho biết: anh Nguyễn Hữu N có khả năng lao động, đang làm công việc giao hàng cho siêu thị tại thành phố Hà Nội, đã lấy vợ. Hồ sơ vụ án thể hiện tại Sổ hộ khẩu anh Nguyễn Hữu N có vợ và hai con. Như vậy, căn cứ khoản 2 Điều 1 Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg ngày 23/02/2000 và mục IV Thông tư liên tịch số 17/2000/TTLT/BLĐTBXH-BTC ngày 05/7/2000, anh Nguyễn Hữu N không thuộc đối tượng hưởng chế độ trợ cấp. Kết luận số 566/KL-TTr ngày 21/11/2019 của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là có cơ sở, do vậy Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đối với anh Nguyễn Hữu N là có căn cứ, phù hợp quy định. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Người khởi kiện về việc huỷ Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ là có căn cứ.

Người khởi kiện cho rằng tính đến ngày Trung tâm y tế huyện xác định khả năng lao động của Người khởi kiện khi đó Người khởi kiện chưa đủ 15 tuổi (Sinh 19/10/1984 đến ngày 10/11/2000 là trên 16 tuổi), là không chính xác.

Người khởi kiện kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cùng quan điểm với Hội đồng xét xử về việc kháng cáo của Người khởi kiện không có căn cứ chấp nhận, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm do phần quyết định tuyên thiếu nội dung “bác yêu cầu buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật”. Hội đồng xét xử xét thấy, án sơ thẩm không tuyên “bác yêu cầu buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật” là chưa đầy đủ, có thiếu sót. Tuy nhiên, tuyên bác yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu N về việc đề nghị huỷ Quyết định số 2357/QĐ-SLĐTBXH(NCC) ngày 30/6/2020 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ về việc đình chỉ và thu hồi trợ cấp hàng tháng đối với con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đã bao hàm cả nội dung không chấp nhận yêu cầu buộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Hữu N theo quy định của pháp luật. Do vậy, không làm thay đổi bản chất sự việc, chỉ cần rút kinh nghiệm là đủ, nên không chấp nhận đề nghị sửa bản án sơ thẩm của đại diện Viện kiểm sát. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Người khởi kiện kháng cáo không được chấp nhận, phải chịu án phí phúc thẩm và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 241, khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Bác kháng cáo của người khởi kiện anh Nguyễn Hữu N, giữ nguyên Quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2021/HC-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu N phải chịu án phí hành chính phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu số 0000033 ngày 21/10/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận đã nộp đủ.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ