- Tranh chấp gì? "Công ty TNHH Một thành viên T kiện Ủy ban nhân dân thị xã T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Công ty TNHH Một thành viên T.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:163/2017/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 7 năm 2017. |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp:
Bà Phạm Thị Duyên
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Mười
Bà Trần Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 02/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2017.
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã căn cứ vào Điểm g, Khoản 1 Điều 123, Điểm h Khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong vụ án hành chính giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Một thành viên T.
Địa chỉ: khu phố 7, phường U, thị xã T, tỉnh B.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoài Phương M.
Địa chỉ: Hồ bơi T, khu phố 8, phường U, thị xã T, tỉnh B.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công an thị xã T.
Tại đơn kháng cáo ngày 24 tháng 3 năm 2017, Công ty TNHH Một thành viên T, do ông Đỗ Hoài Phương M là đại diện theo pháp luật, kháng cáo toàn bộ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Căn cứ các chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án và phần trình bày của đương sự tại phiên họp thể hiện:
Ngày 03/01/2013 đoàn kiểm tra liên ngành bao gồm Công an huyện (nay là thị xã T), Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T và Ủy ban nhân dân phường U đã tạm giữ phương tiện máy đào (là chiếc máy đào bánh xích hiệu Daewoo Solar 280Lc-III, SK/năm sx: SL280-III-0014/1996) của Công ty TNHH Một thành viên T.
Do đó, Công ty TNHH Một thành viên T đã khởi kiện yêu cầu Công an thị xã T, tỉnh B phải trả lại cho Công ty TNHH Một thành viên T chiếc máy đào nêu trên và bồi thường thiệt hại cho công ty số tiền 1.320.000 đồng do việc thu giữ máy đào sai pháp luật gây ra. Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý vụ án dân sự và xét xử bác toàn bộ yêu cầu của Công ty TNHH Một thành viên T. Ngày 09/9/2016 Công ty TNHH Một thành viên T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm tới Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý giải quyết. Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 243/2016/DS-PT ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã nhận định: Căn cứ biên bản kiểm tra ngày 03/01/2013 thì việc thu giữ máy đào của Công ty TNHH Một thành viên T là hành vi của tổ liên ngành gồm: Công an thị xã T, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T và Ủy ban nhân dân phường U. Tuy vậy, ngày 14/10/2013 Công an thị xã T có Tờ trình số 256/TTr-CATU đề nghị Uỷ ban nhân dân thị xã Tân Uyên xử phạt vi phạm hành chính đối với ông M về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Ngày 15/7/2016, Ủy ban nhân dân thị xã T có Báo cáo số 156/BC-UBND và ngày 25/8/2016 có Công văn số 2653/UBND-NC gửi Ủy ban nhân dân tỉnh B để xin ý kiến chỉ đạo xử lý vụ việc nêu trên. Đến thời điểm Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vào ngày 29/8/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh B chưa trả lời. Như vậy có đủ căn cứ xác định rằng Công an thị xã T tạm giữ chiếc máy đào bánh xích hiệu Daewoo Solar 280Lc-III (SK/năm sx: SL280-III-0014/1996) là trong quá trình thực thi công vụ. Tại thời điểm Công ty TNHH Một thành viên T khởi kiện thì vụ việc đang được Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh B thụ lý, giải quyết.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 243/2016/DS-PT ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xác định yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Một thành viên T thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính. Nếu cho rằng cơ quan có thẩm quyền (hiện tại là Ủy ban nhân dân thị xã T) không ra quyết định giải quyết việc tạm giữ tài sản và không trả lại tài sản (là máy đào bánh xích hiệu Daewoo Solar 280Lc-III, SK/năm sx: SL280-III-0014/1996) thì Công ty TNHH Một thành viên T có quyền khởi kiện về hành vi hành chính đồng thời có quyền yêu cầu trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ kiện của Công ty TNHH Một thành viên T theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự là không đúng pháp luật. Từ đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên và đình chỉ giải quyết vụ án.
Người khởi kiện, Công ty TNHH Một thành viên T đã tiến hành khởi kiện vụ án hành chính đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý số 55/2016/TLST-HC ngày 21 tháng 12 năm 2016. Tuy nhiên, sau đó Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã mời người khởi kiện đến sửa đơn khởi kiện. Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu sửa đơn theo hướng kiện Công an thị xã T chứ không được kiện Ủy ban nhân dân thị xã T, người khởi kiện không đồng ý. Từ việc người khởi kiện không đồng ý sửa đơn đổi người bị kiện mà Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ vụ án. Người khởi kiện kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy quyết định nêu trên.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định:
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định cho rằng người khởi kiện viết đơn có nội dung không đúng đối tượng bị khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã có Thông báo về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện số 01/TB-TA ngày 09/02/2017 theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 122 Luật Tố tụng hành chính. Từ nhận định đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã áp dụng vào Điểm g, Khoản 1 Điều 123, Điểm h Khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015 đình chỉ giải giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, căn cứ Khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nêu “Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, lập danh sách cử tri bị khởi kiện”. Và căn cứ Bản án dân sự phúc thẩm số 243/2016/DS-PT ngày 24 tháng 11 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thì Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh B cũng là một trong những cơ quan hành chính đã thụ lý mà không giải quyết vụ việc thu giữ máy đào của Công ty TNHH Một thành viên T. Chứng cứ chứng minh việc đang thụ lý vụ việc của Ủy ban nhân dân thị xã T là trên cơ sở tờ trình ngày 14/10/2015 của Công an thị xã T thì ngày 15/7/2016 và ngày 25/7/2016 Ủy ban nhân dân thị xã T có Báo cáo số 156/BC-UBND, số 2635/UBND-NC gửi Ủy ban nhân dân tỉnh B xin ý kiến chỉ đạo về việc xin ý kiến chỉ đạo xử lý vụ việc trên.
Từ các chứng cứ nêu trên đã xác định Ủy ban nhân dân thị xã T có hành vi hành chính là không giải quyết vụ việc thu giữ máy đào của Công ty TNHH Một thành viên T. Do vậy, Công ty TNHH Một thành viên T có quyền khởi kiện đối với Ủy ban nhân dân thị xã T. Việc xác định hành vi của Ủy ban nhân dân thị xã T sai hay đúng, có gây thiệt hại hay không phải thông qua xét xử của Tòa án. Đương sự xác định người bị kiện là một trong những người có hành vi hành chính mà họ cho rằng gây ảnh hưởng quyền lợi ích của họ là quyền của đương sự. Mặt khác, Tòa án có quyền xác định ai là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện trong quá trình giải quyết vụ việc nếu Tòa án thấy cần thiết.
Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định việc đình chỉ xét xử vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 243 Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện Công ty TNHH Một thành viên T.
Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 02/2017/QĐST-HC ngày 13 tháng 3 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết vụ án theo đúng qui định pháp luật.
2. Về án phí: Công ty TNHH Một thành viên T không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng cho Công ty TNHH Một thành viên T theo biên lai số AA/2016/0010595 ngày 04/4/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Bình Dương (1); - VKSND tỉnh Bình Dương (1); - Cục THADS tỉnh Bình Dương (1); - NKK (2) - NBK (1) - NCQLNVLQ (1) - Lưu (3) 14b (QĐ.TPQ) | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Duyên |